Trước là “Lâm Đại Ngọc”, nay là đệ tử Đại Pháp
Bài viết của một đệ tử Đại Pháp tại tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc
[MINH HUỆ 11-03-2026] Tu luyện trong Pháp Luân Đại Pháp hơn 20 năm, thân tâm tôi đều phát sinh những cải biến to lớn, từ tính tình, diện mạo cho đến cách đối nhân xử thế, hiện giờ tôi có thể nói mình đã được tái sinh. Tôi muốn viết ra đôi chút trải nghiệm nhân sinh trước và sau khi đắc Pháp, mượn bài viết này để cảm tạ ân từ bi cứu độ của Sư tôn vĩ đại!
Những năm tháng cay đắng
Hồi tôi còn nhỏ, vì cha tôi là “xú lão cửu” (một cách gọi mang tính kỳ thị giáng lên đầu giới trí thức thời Cách mạng Văn hóa), mẹ tôi là “địa chủ phú nông”, cả gia đình chúng tôi bị đày về sống ở một vùng nông thôn hẻo lánh. Trong khe núi bần hàn và khép kín ấy, tôi đã trải qua một tuổi thơ chua xót, tủi nhục, và cũng ở đó, tôi đã mất đi hai người thân: bà ngoại, người thậm chí không đủ tư cách đến bệnh viện, và em gái tôi, do bị tiêm quá liều tại bệnh viện xã mà chết. Mẹ tôi vì tranh giành mảnh đất tự canh mà xô xát với hàng xóm, bị đẩy xuống khe núi, may giữ được mạng sống nhưng lại mang một thân đầy bệnh. Tôi và anh trai vì suy dinh dưỡng nên từ nhỏ đã thấp bé, gầy gò. Cha tôi ở nông thôn không có đất dụng võ, để cải thiện cuộc sống, đôi khi ông thậm chí phải bắt mèo rừng và chuột để ăn. Môi trường sống gian khổ khiến thân thể cả gia đình chúng tôi đều không tốt, đến mức sau này khi vào thành phố rồi, ở trường học và nơi làm việc, tôi vẫn bị gọi là “Lâm Đại Ngọc” yếu ớt mong manh.
Khi đó, thân thể tôi thực sự rất suy nhược, gầy đến mức đáng thương, bọn trẻ con đặt biệt danh cho tôi là “cây sào khô”. Cha tôi vô cùng lo lắng cho sức khỏe của tôi, nói rằng cô con gái lớn của ông cố gắng đừng để gió cuốn bay đi. Lúc đó tôi đi bộ cũng thấy mệt, đi xa một chút là đau bụng; đạp xe không cầm nổi tay lái, thường xuyên ngã xuống ruộng bên đường; ăn đồ hơi nhiều dầu mỡ một chút là bắt đầu tiêu chảy; rồi thì đau nửa đầu, viêm xoang, viêm khớp, suy nhược thần kinh cùng cả đống bệnh vặt. Sau khi đi làm, tôi bắt đầu tự mình đi khắp nơi tìm thầy hỏi thuốc, tìm hết Tây y lại đến Đông y, uống hết thuốc kê đơn đến các bài thuốc dân gian, mỗi ngày uống hết lọ thuốc Tây này đến lọ thuốc Tây khác, uống hết bát thuốc Bắc này đến bát thuốc Bắc khác cũng không thấy chuyển biến. Nhớ lại hồi mới đi làm không lâu, có lần lãnh đạo cấp trên xuống kiểm tra công việc nhìn thấy tôi, liền hỏi lãnh đạo bộ phận của tôi: Cô này có phải bị bệnh nặng không? Sao lại gầy thế? Mau cho cô ấy đi khám đi, đừng để chậm trễ. Thời gian đó tôi cả ngày lúc nào cũng lơ mơ, cảm thấy cuộc sống thật vô vị.
Sau khi kết hôn, vì thân thể ốm yếu, tôi mang thai rồi sẩy thai hai lần. Lần mang thai thứ ba kéo dài mười tháng, tôi hầu như nằm trên giường cả ngày để an thai, cuối cùng khi sinh thì thai nhi lại chết lưu trong bụng. Đến lúc này tôi phải chấp nhận thực tế phũ phàng của hai chữ “số phận”. Tôi không biết con người thì có gì vui, trong đời có quá nhiều sự vô thường ập đến bất ngờ, tôi cảm thấy mình luôn sống trong nơm nớp lo sợ, không dám cười, không dám quá vui, cảm thấy tiếng cười chưa dứt thì chuyện không may đã lại đến.
Có lẽ vì cơ thể bệnh tật ốm yếu, tính cách của tôi rất cố chấp, bướng bỉnh, lại thanh cao kiêu ngạo, nói năng chua ngoa cay nghiệt, u sầu hay khóc, hay giận dỗi, một “Lâm Đại Ngọc” như vậy, không ai dám lại gần, cũng không ai dám động tới.
Tôi là một công chức, trong công việc thường xuyên tiếp xúc với những người làm ăn. Đối với người có tiền, tôi cảm thấy họ ngoài tiền ra thì chẳng có gì, vô đức vô phẩm, nói chuyện với họ tôi cứ gắt gỏng, áp đặt các kiểu; đối với người không có tiền, tôi cảm thấy họ không tiếc vứt bỏ tôn nghiêm, chỉ vì chút lợi nhỏ mà đánh mất đi nhân cách, nên tôi cũng chẳng thèm để mắt tới. Ở cơ quan, tôi tỏ ra “chống đối” cấp trên, không tôn trọng họ; đối với đồng nghiệp thì tôi xét nét, nói chuyện không hợp thì chẳng buồn hé răng. Tôi cũng coi thường họ hàng người thân, cảm thấy tố chất của họ thấp kém, chê họ hay thích chiếm tiện nghi, tôi không muốn qua lại với họ hàng bên nhà chồng, dần dần xa lánh họ; nhìn họ hàng bên nhà mẹ đẻ cũng thấy phiền phức, nên cũng ít qua lại. Trong mắt những người xung quanh, tôi chính là một “kẻ lập dị”, bản thân sống không vui vẻ, cũng không thể mang lại niềm vui cho người khác, một người mang tâm thái “bệnh hoạn”.
Đắc Pháp tái sinh
Năm 1997, mẹ tôi vì muốn chữa bệnh cho em gái nên tiếp xúc với rất nhiều khí công sư, cuối cùng may mắn gặp được Đại Pháp và tu luyện cho đến nay. Lúc đó tôi cũng đã xem sách Đại Pháp, nhưng không để tâm. Sau này vì một chuyện đặc biệt, đến năm sau đó tôi mới bước vào tu luyện.
Đó là vào năm 1998, cha mẹ tôi tìm rất nhiều khí công sư để chữa bệnh cho cô con gái mắc bệnh nan y, trong đó có một người rất nổi tiếng ở địa phương, nghe nói có rất nhiều người ở nơi khác đến cầu ông ta chữa bệnh, có cả một số quan chức cấp tỉnh bộ, phí chữa bệnh rất cao. Lần ấy tôi đi cùng. Vị khí công sư sau khi nhìn thấy tôi cứ khăng khăng đòi xem bệnh cho tôi, nói rằng tương lai tôi sẽ gặp nguy hiểm ra sao, đưa tôi đến phòng chứa đồ nhà họ, dùng ánh mắt không mấy tốt đẹp nhìn tôi, nói rằng bệnh của tôi sau này còn thê thảm hơn cả em gái tôi, ở bộ phận nào đó sẽ có vấn đề lớn, bảo tôi theo ông ta học, bình thường phải uống nhiều rượu, càng nhiều càng tốt. Tôi biết tâm thuật của ông này bất chính, nhưng không sợ hãi. Lúc đó trong tâm tôi đột nhiên nhớ tới Sư phụ Đại Pháp, trong lòng thầm nói: “Sư phụ, con xin lỗi Ngài, con hiện tại chưa được coi là đệ tử của Ngài, nhưng tương lai con chắc chắn sẽ là đệ tử của Ngài, con không muốn bất cứ thứ gì của người này, xin Ngài hãy giúp con!” Chỉ với một niệm này, người đó lập tức giống như một quả bóng xì hơi, ngã gục xuống ghế, mồ hôi đầm đìa, rồi luống cuống gọi người nhà của ông ta: Nhanh lên nhanh lên! Tôi kiệt sức rồi, mau nấu cho tôi bát mì, mau đuổi người này đi! Rồi lại lớn tiếng trách mắng cha tôi: Ông không thành tâm, tại sao lại dẫn người như thế này đến chỗ tôi, mau đi khỏi đây! Đi khỏi đây!
Về đến nhà, tôi nâng cuốn sách Đại Pháp, nhìn ảnh Sư tôn và nói: “Sư phụ, con muốn chính thức bắt đầu học Đại Pháp.” Giây phút đó, trong lòng tôi vô cùng kiên định: Tôi được định sẵn là đệ tử Đại Pháp, là đệ tử của Sư phụ, không ai dám động đến. Từ đó tôi bước trên con đường tu luyện Đại Pháp không chút do dự.
Tu luyện không lâu, thân thể tôi trở nên hoàn toàn khỏe mạnh. “Lâm Đại Ngọc” đa sầu đa cảm nay đã biến thành một đệ tử Đại Pháp hoàn toàn mới với sức khỏe dồi dào, lạc quan cởi mở, hòa nhã thiện lương, và sẵn lòng phó xuất.
Đến nhà mẹ chồng, tôi vào bếp nấu nướng, về nhà bố mẹ đẻ, tôi cũng nấu ăn, và ở nhà mình cũng vậy. Tôi không chút oán thán mà vô cùng vui vẻ; sẵn sàng ngồi xổm xuống thắt dây giày cho cô em chồng mà trước đây tôi vốn coi thường; cầm lấy cuộn giấy bẩn vừa lau nước mũi và khạc đờm mà người em rể đang ốm đưa cho; dọn phân cho đồng tu đang trong ma nạn bệnh nghiệp; ăn phần mì còn thừa trong bát của đồng tu cao niên… Trước khi tu luyện tôi mắc bệnh ưa sạch sẽ, tu luyện rồi, tôi làm những việc này một cách rất tự nhiên. Nhìn thấy sự thay đổi của tôi, những người xung quanh kinh ngạc không thôi. Đây đều là những việc mà người tu luyện nên làm và phải làm được.
Trước đây tôi ăn một chút đồ dầu mỡ là không dám đi xa, sợ không kịp tìm nhà vệ sinh, nay thì không còn bất kỳ kiêng kỵ nào nữa. Trước đây tôi rất sợ lạnh, sau này cùng đồng tu đi giảng chân tướng vào mùa đông tuyết rơi lạnh giá, đứng một mạch ba, bốn tiếng đồng hồ mà vẫn thấy ấm áp; vốn dĩ vì da khá trắng nên tôi đặc biệt sợ nắng, bây giờ đứng dưới ánh mặt trời giảng chân tướng vẫn ung dung tự tại.
Có lần tôi vừa lên xe buýt, một ông lão đột nhiên choáng váng, ngã ngửa về phía sau, trên xe có khá nhiều người, nhưng mọi người lại đồng loạt né ra cho ông ấy ngã, tôi theo bản năng đưa hai tay từ phía sau đỡ lấy ông ấy, một người tốt bụng khác cũng đưa tay nắm lấy áo ông, nhờ vậy mà ông lão không bị ngã. Ông lão dáng người dong dỏng, có lẽ cũng phải nặng hơn 50 cân, vậy mà tôi lại có thể dễ dàng đỡ lấy ông ấy từ phía sau, điều này trước kia là tuyệt đối không thể, không thể làm được, và cũng không làm nổi. Đôi khi trên đường giảng chân tướng, gặp các chị, các bà đi chợ mua rau, chật vật kéo theo chiếc xe đẩy nặng, lên xuống xe buýt rất vất vả, tôi liền giúp họ xách lên xách xuống xe, lại còn thấy rất nhẹ nhàng.
Khi virus Trung Cộng kéo đến làn sóng lây nhiễm “dương tính” cho người dân trên cả nước, cả gia đình chúng tôi đều bình an khỏe mạnh, những người quen biết đều tấm tắc nói thật kỳ lạ. Con tôi nói: “Cảm ơn mẹ đã tu luyện, mang đến cho chúng con một môi trường đầy năng lượng tích cực, virus không thể xâm nhập.”
Giao lại quyền kiểm soát tài chính
Trong các gia đình Trung Quốc hiện nay, hầu hết quyền kiểm soát tài chính trong nhà đều nằm trong tay người phụ nữ, vợ làm chủ gia đình, nói một là một hai là hai. Chồng tôi rất đôn hậu, sau khi kết hôn, trong vấn đề tiền bạc anh ấy không hề tranh giành mà coi như đương nhiên để tôi quản lý, tôi cũng không khách sáo. Rất nhiều năm qua, quyền kiểm soát tài chính trong nhà đều do tôi quyết định. Đôi khi chồng tôi tiêu tiền cho mẹ chồng hoặc họ hàng nhà anh ấy, tôi lại không hài lòng, tuy không làm ầm ĩ nhưng trong tâm bực bội, khiến anh ấy cũng rất khó xử trước mặt người thân.
Sau khi tu luyện, tôi nhận ra sự lấn át này trong gia đình là trái với văn hóa truyền thống, là do thói quen và quan niệm biến dị sau khi bị văn hóa của tà đảng đầu độc. Tôi nói với chồng: Em quản lý tài chính không giỏi, anh quản lý nhé. Anh ấy trông có vẻ chưa quen, khẽ nói: Ừ. Tôi liền kể rõ tình hình tài chính trong nhà cho anh ấy, sau đó chuyển phần lớn tiền sang thẻ của anh ấy, như vậy anh ấy tiêu tiền sẽ tự do hơn, hiếu kính với người già cũng thuận tiện hơn. Khi có việc lớn việc nhỏ bên nhà chồng, tôi lo anh ấy không nhớ nên thỉnh thoảng còn nhắc nhở anh ấy những chỗ cần phải tiêu, bây giờ thành ra tôi trực tiếp giúp anh ấy lo liệu, không ngần ngại tiêu tiền cho bà nội, mẹ chồng, chú, thím, chị chồng, em gái chồng, anh chị dâu, cháu nhỏ, cho bậc trưởng bối hay hậu bối trong gia tộc. Nếu là tôi trước khi tu luyện, luôn đa nghi và để ý những chuyện nhỏ nhặt, thì căn bản sẽ không buông bỏ quyền kiểm soát tài chính trong nhà, đưa cho chồng anh ấy cũng không dám nhận, vì sợ làm tôi giận. Hiện giờ tài chính của gia đình tôi rất minh bạch, giữa vợ chồng không còn cần phải giấu “quỹ đen” nữa.
Có một lần đơn vị chồng tôi tổ chức liên hoan, muốn chọn vài đại diện người nhà đến tham dự, lại còn tặng cho một phong bao lì xì lớn, vậy mà chồng tôi thậm chí không hỏi tôi một câu. Sau này khi trò chuyện nhắc đến việc này, anh ấy kể: Anh nói với họ là vợ tôi chắc chắn không đi, có cho mười vạn tệ cũng không đi. Tôi rất ngạc nhiên, sao anh ấy lại nghĩ tôi như vậy! Đây có lẽ là ấn tượng từ thái độ của tôi đối với tiền bạc để lại trong anh ấy, điều này cũng phản ánh sự ngạc nhiên của người nhà về những thay đổi về nhân cách của tôi sau khi tu luyện.
Bởi vậy sau này có người bịa đặt nói đệ tử Đại Pháp phát tài liệu giảng chân tướng là do có người, có quốc gia nào đó đứng sau chi tiền, loại tin đồn này đến chỗ chồng tôi liền tự động bị bác bỏ, vì anh ấy biết rằng, người học Đại Pháp hoàn toàn không lấy tiền của người khác. Khi tôi cần chi tiền cho các hạng mục Đại Pháp, anh ấy cũng không hề ý kiến gì, đôi khi còn giúp tôi mua một chút vật tư. Đặc biệt là trong khoảng thời gian dùng điện thoại phát giọng nói để cứu người, tôi có nhiều điện thoại di động, mỗi tháng tiền điện thoại cũng mất một, hai nghìn tệ, đôi khi tôi giúp các đồng tu có hoàn cảnh kinh tế khó khăn mua thẻ điện thoại, vài trăm vài nghìn tệ, đó là chuyện rất bình thường và thường xuyên. Tôi coi tiền bạc kiếm được chính là tài nguyên của Đại Pháp, có thể dùng cho hạng mục cứu người của Đại Pháp là tốt nhất rồi, chứ không cảm thấy đây là phó xuất, nếu coi là phó xuất, thì đó đều là của Sư tôn, đều là Sư tôn ban cho đệ tử.
Thực ra nhà tôi không có khoản tiền lớn nào, tôi cũng không thường xuyên đi xem xét cụ thể có bao nhiêu tiền, nhưng đối với người tu luyện thì như vậy là đủ rồi.
Sư phụ ban cho lòng can đảm
Mẹ tôi từng bị xếp vào thành phần “địa chủ phú nông”, còn cha tôi là “xú lão cửu”, trong những khoảng thời gian khác nhau họ từng phải gánh chịu cuộc bức hại của Trung Cộng, nên luôn sống trong run rẩy lo sợ. Lớn lên trong một gia đình có bối cảnh như vậy, tôi tuy bướng bỉnh, nhưng từ nhỏ đã học được cách tự bảo vệ mình, biết giữ chừng mực, khi gặp chuyện thì sợ hãi, thậm chí là khiếp sợ, trong tính cách có mặt rất yếu đuối và nhát gan.
Sau khi Trung Cộng bức hại Pháp Luân Công, bất luận là người quen hay người lạ, hễ nhắc đến ba từ Pháp Luân Công, phản ứng bản năng của mọi người là: Còn dám luyện môn này sao! Không cần gia đình nữa à! Không thiết sống nữa à! Tu luyện trong hoàn cảnh bức hại khủng bố đỏ như vậy, thực sự cần phải có can đảm.
Tôi nhớ, lần đầu tiên bước ra khỏi cửa nhà đi phát tài liệu, tôi cảm giác như thể xung quanh đều là ánh mắt đang chằm chằm nhìn mình; lần đầu tiên bước ra phố giảng chân tướng cho người lạ, tim tôi đập loạn xạ; lần đầu tiên cầm điện thoại gửi tin nhắn MMS chân tướng, tay tôi run lẩy bẩy; lần đầu tiên gọi điện thoại tự động phát giọng nói chân tướng, tôi chỉ sợ những người xung quanh nghe thấy; lần đầu tiên in ra tài liệu chân tướng do tự mình biên soạn, khắp người khắp mặt đều dính mực; lần đầu tiên cùng đồng tu đi dán tờ rơi chân tướng vạch trần tội ác thu hoạch nội tạng sống của Trung Cộng, hai chúng tôi vừa làm vừa khóc. Lúc đó, sự việc này đã vượt quá giới hạn chịu đựng của chúng tôi, nhất thời không thể chấp nhận được sự thật rằng những hành động tàn bạo như vậy đang xảy ra ở nhân gian, đối mặt với hoàn cảnh tà ác như thế, hai chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, lặng lẽ không nói nên lời. Có sợ không? Sợ đến đâu cũng phải khắc phục, kiên định làm những việc mình nên làm.
Có một lần, vì đồng tu gặp ma nạn nghiệp bệnh phải nhập viện, tôi đeo trên lưng mười mấy chiếc điện thoại di động của cả hai đi gọi điện phát giọng nói. Trong lúc đợi xe ở bến xe, tôi đứng bên vệ đường lấy chiếc túi nhiều ngăn đựng điện thoại ra, kiểm tra tình trạng hoạt động của từng cái và chọn lại đầu số. Vì quá tập trung, lúc ngẩng đầu lên thấy một chiếc xe cảnh sát dừng ngay trước mặt tôi, chỉ ở khoảng cách tầm tay với. Viên cảnh sát nhìn chằm chằm vào tôi, nhìn vào những chiếc điện thoại trong tay tôi, tôi cũng nhìn lại anh ta, nhưng vô cùng bình tĩnh, không chút biểu cảm, rồi cúi đầu xuống tiếp tục thao tác. Đèn giao thông chuyển màu, xe cảnh sát chuyển bánh, đến lúc ấy tim tôi mới bắt đầu đập thình thịch. Tôi rảo bước thật nhanh, đi đến một con phố phía sau trấn tĩnh một lúc lâu, rồi lại tiếp tục đi tới. Giây phút ấy, tôi cảm thấy Sư tôn đã định chắc cái tâm của tôi, vững vàng, không xảy ra nguy hiểm gì, là Sư tôn đã ban cho tôi sự can đảm!
Năm 2015, tôi cùng các đồng tu dùng tên thật tham gia “kiện Giang”. Khi ấy tôi chỉ nghĩ: đệ tử Đại Pháp phải thực hành đạo nghĩa ở nhân gian, không thể thoái thác. Sau này tôi dần hiểu ra, rằng đó là do tiến trình Chính Pháp của Sư tôn đã đẩy đến giai đoạn đó, tại các không gian khác không biết đã dọn sạch bao nhiêu yếu tố tà ác. Sau khi tên ma đầu bị khởi kiện, biểu hiện rõ nhất là hiệu quả giảng chân tướng lập tức xảy ra biến đổi cực lớn. Cá nhân tôi cảm nhận rằng: trước đây có một số cửa hàng quen thuộc tôi từng đến, nói thế nào ông chủ cũng thờ ơ, nhưng sau này chỉ cần vài câu, dù vẫn là những lời y hệt như thế mà họ lập tức đồng ý “tam thoái” (thoái xuất khỏi các tổ chức Đảng, Đoàn, Đội của Trung Cộng), không hề do dự; những người tôi gặp mỗi ngày, dường như đều đã thay đổi, rất hiếm người chống đối, phần lớn mọi người đều có thể nghe, sẵn sàng nghe, có thể hiểu, rồi sau đó chọn “tam thoái”.
Sau khi “kiện Giang” không lâu, một đồng tu gọi điện cho tôi nói rằng đồng tu ấy phải tạm thời rời khỏi địa phương, khuyên tôi cũng tạm nghỉ làm, đi nơi khác trốn một thời gian. Không khí khủng bố do tà ác gây ra lúc đó thực sự khiến tôi cảm thấy bất cứ lúc nào cũng có thể bị bắt đi, cho nên khi đi làm tôi đều mặc quần dài chứ không mặc váy. Chồng tôi cũng khuyên tôi, bảo tôi hãy nói là mất chứng minh thư và không biết chuyện gì xảy ra. Tôi bảo như thế sao được, chính em là người làm việc này, em còn điểm chỉ nữa mà, anh yên tâm đi, em có Sư phụ quản.
Nhưng dù áp lực lớn đến đâu, việc giảng chân tướng cứu chúng sinh cũng không bị trì hoãn một ngày nào. Do cảnh giới tu luyện khi ấy, nhận thức về Pháp lý còn hạn chế, tôi đã chuyển máy in và một số vật phẩm đi, chỉ để lại sách điện tử và điện thoại di động dùng để giảng chân tướng, tiếp tục đi ra ngoài gọi điện thoại phát giọng nói cứu người, về đến nhà thì giấu chúng đi, vào ngày cuối tuần và ngày lễ tôi vẫn không ngừng kiên trì gọi. Sư phụ lại một lần nữa giúp tôi can đảm hơn!
Truyền rộng phúc âm
Khi mới bắt đầu giảng chân tướng trực diện cho thế nhân, tôi rất sợ mất thể diện và không chịu đựng nổi sắc mặt khó chịu của mọi người. Có người mắng chửi, nói tôi thần kinh, bảo tôi tránh xa ra v.v.; có người túm lấy tôi, la lối ầm ĩ, đòi đưa tôi đến đồn cảnh sát; có người khinh bỉ, chán ghét, nhìn tôi mà chẳng thèm đoái hoài. Lúc đó trong lòng liền đảo lộn: Sao có thể vô ơn thế nhỉ, cả đời tôi là để nói những lời này, nếu không phải vì cứu các người, các người có đi qua ngay dưới mắt tôi tôi cũng chẳng buồn để ý. Tôi có đòi các người tiền bạc hay vật chất gì đâu? Pháp Luân Công đã làm hại gì các người? Làm chính trị mà lại đi tìm người như các vị à? Sự thiếu thiện tâm và tranh đấu này đương nhiên không thể cứu được ai cả.
Về sau khi tâm tính đề cao hơn một chút, tôi mới biết mình đã sai, khi gặp tình huống như vậy tôi liền tìm thiếu sót ở bản thân trước, trong tâm xin lỗi thế nhân, vì chưa tu tốt nên chưa thể giúp bạn hiểu rõ chân tướng, hy vọng bạn còn cơ hội gặp được đồng tu tu tốt hơn tôi để giảng rõ cho bạn hiểu. Có những lúc giảng chân tướng xong, về nhà lẩm bẩm vài câu với người nhà, họ nói: Ôi, bọn em thật không dễ dàng gì! Sao có cảm giác ngày nào em cũng như đang phải nói lời nịnh nọt người ta vậy? Lúc này tôi cũng tự tìm ở bản thân: Phải chăng cơ điểm khi giảng chân tướng đã đặt sai, vị trí đã đặt sai, không tạo cho người ta ấn tượng đường đường chính chính thì cũng không được, là Đại Pháp đang cứu người cơ mà, chúng tôi đâu có cầu xin người ta thứ gì đâu!
Sau này việc giảng chân tướng của tôi dần dần thành thục hơn, cùng với việc thúc đẩy tiến trình Chính Pháp của Sư tôn, hiện tại tình hình giảng chân tướng trực diện đã thay đổi rất nhiều. Người ầm ĩ la lối ít đi, người bài xích ít đi, cá biệt có người không thoái thì cũng tự động bỏ đi, cơ bản là sau khi giảng xong chân tướng thì họ thoái, hơn nữa còn bày tỏ lòng biết ơn.
Có lần giảng chân tướng xong cho một chị và chuẩn bị rời đi, chị ấy nói: “Em đợi đã.” Tôi hỏi chị ấy còn chuyện gì sao. Chị ấy bảo: “Cho chị ôm em một cái, chị muốn ôm em.” Hai chúng tôi cứ thế ôm nhau thật tự nhiên, nhẹ nhàng vỗ lưng đối phương, ôm rất lâu. Đây chính là một loại duyên phận! Con xin cảm tạ Sư tôn!
Cũng có người nói: “Cô nói chuyện sao dễ nghe thế, nghe xong, tôi thấy thoải mái quá, hôm nay tâm trạng tôi không tốt, cố ý bắt xe từ Quận Giao vào thành phố dạo một vòng, bây giờ tâm trạng tôi rất tốt rồi, tôi phải về nhà đây!”
Nhiều lúc giảng chân tướng ở bến xe, thế nhân sau khi minh bạch chân tướng vô cùng cảm kích, cũng không muốn rời đi, thường là người lên xe cuối cùng, sau khi lên xe rồi vẫn đứng gần cửa xe vẫy tay chào tôi. Người dưới xe hỏi tôi: Chị tiễn người thân à? Tôi nói: Vâng. Sau đó lại tiếp tục giảng chân tướng cho “người thân” này.
Có lần tôi gặp một anh đứng tuổi, anh ấy rất nghiêm túc nói: “Nhà cô có con trai hay con gái? Tôi muốn làm sui gia với cô, một người tốt như cô, được làm người thân của cô thì hạnh phúc biết bao!”
Tôi từng là một người mắc bệnh sạch sẽ, từng yếu ớt như chiếc lá trước gió, đến giờ giảng cho những nông dân lên thành phố làm thuê, giảng cho người già nhặt rác, mà không có chút ghét bỏ nào; có lúc ngồi ngay trên mặt đất, có lúc vừa đi vừa giảng, họ đi nhanh tôi cũng đi nhanh, họ đi chậm tôi cũng đi chậm, bước chân nhẹ nhàng, không hề mệt mỏi chút nào.
Có người nói: “Chỉ có các cô là người tốt thôi sao! Tôi tuy không tin cái gì, nhưng tôi cũng là người tốt đấy.” Tôi đáp: “Bác là người tốt. Hơn nữa còn là một người tốt phi thường. Trong thời thế nhiễu nhương này mà có thể tự kỷ luật bản thân như vậy, làm một người tốt quả thực rất xuất sắc!” Lại có người nói: “Tôi không tin cái đó của các người, đừng áp đặt quan niệm của chị cho tôi.” Tôi nói: “Cháu không có ý đó, cháu rất tôn trọng suy nghĩ của bác, cháu chỉ muốn chia sẻ với bác bí quyết khỏe mạnh và hạnh phúc của cháu thôi, Chân-Thiện-Nhẫn tốt lắm ạ, Pháp Luân Đại Pháp là Phật Pháp, bức hại Phật Pháp sẽ bị quả báo, cháu chỉ hy vọng trong tương lai có một ngày, bác được đứng trong hàng ngũ những người may mắn.” Lúc này, họ thường mỉm cười và cũng rất vui vẻ “tam thoái”.
Tu luyện ấy, ngay từ khi bắt đầu đã là sự việc phân rõ người và Thần rồi, suốt chặng đường này, từ một người thường trước đây, cho đến một người tu luyện hiện tại, tôi không thể dùng ngôn từ nào để cảm tạ Sư tôn, hễ nghĩ đến sự vất vả và gánh chịu của Sư tôn, nước mắt tôi lại tuôn rơi… Bất luận ý định ban đầu khi bước vào tu luyện Đại Pháp là gì, tôi cảm thấy chấp trước căn bản nhất hiện nay chính là chấp trước làm người. Không chịu từ bỏ bản chất của con người, cái lý của con người, thì Pháp lý vô biên của Đại Pháp làm sao có thể thấm nhuần vào tâm của chúng ta đây! Chúng ta là tu luyện Phật Pháp, điều Sư tôn dạy chúng ta là Đại Pháp phản bổn quy chân, tu thành chính quả, nếu bỏ lỡ cơ duyên như vậy, nếu hôm nay vẫn chưa ngộ đạo, thì quả thực là một điều quá đỗi bi thương.
Tất cả mọi thứ ở tôi đều đã thay đổi, đều đã được Đại Pháp cải biến, bởi vì tôi làm người làm việc đều theo tiêu chuẩn Chân-Thiện-Nhẫn của Đại Pháp, luôn bao dung lượng thứ cho người khác, thiện đãi nhiều thế nhân hơn, nên tâm lúc nào cũng an. Bởi vì hiểu được đạo lý nhân sinh có nhân duyên, vạn sự có nhân quả, không còn vì danh lợi tình thù nơi thế gian mà tranh tranh đấu đấu nữa, may mắn bước trên Đại đạo tu luyện, cho nên ngày ngày tôi đều rất an tâm.
Vô cùng cảm ân Sư tôn vĩ đại đã dẫn dắt con bước trên con đường phản bổn quy chân! Cảm ân Sư tôn từ bi cứu độ! Khấu đầu bái tạ Sư tôn!
Bản quyền © 1999-2026 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.
Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2026/3/11/496619.html
Bản tiếng Anh: https://en.minghui.org/html/articles/2026/4/10/233601.html


