Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật Thiên cổ anh hùng của văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm
[ChanhKien.org]
Chương 6: Tấm gương cho đế vương muôn đời
Khác với lịch sử của các quốc gia khác trên thế giới, vũ đài Hoa Hạ hiện lên đặc sắc riêng biệt bởi sự thay thế của các triều đại theo phương thức: “Một triều thiên tử, một triều thần, một triều văn hóa”. Các hoàng đế Trung Nguyên với vị thế tôn quý là con Trời (Thiên tử), thống lĩnh hoàng triều, làm chủ thế gian.
Đại Đường Thái Tông vốn có nguồn gốc từ vị “Kim Luân Thánh Vương” nơi thâm sâu của thương khung xa xăm. Lúc triều Tùy sắp mạt Ngài đã hạ thế, dẹp yên bốn bể, gây dựng nên giang sơn Đại Đường, giáo hóa chúng sinh. Với sự huy hoàng của “Trinh Quán chi trị”, Ngài đã khiến các vị thánh quân minh chúa đời sau như Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt, Minh Thành Tổ Chu Đệ, Thanh Thánh Tổ Khang Hy hết lời ca ngợi và vô cùng sùng bái.
Năm Trinh Quán thứ 22, Thái Tông tự tay soạn cuốn “Đế Phạm” (Gương mẫu Đế vương), chia làm 12 chương: Quân thể (Thể chế của vua), Kiến thân (Thiết lập thân tộc), Lập hiền (Tìm kiếm người hiền), Thẩm quan (Xem xét quan lại), Nạp gián (Tiếp nhận lời can), Khứ sàm (Dẹp bỏ lời sàm tấu), Giới doanh (Răn đe kiêu ngạo), Sùng kiệm (Coi trọng tiết kiệm), Thưởng phạt (Khen thưởng xử phạt), Vụ nông (Chăm lo nông nghiệp), Duyệt vũ (Rèn luyện quân sự) và Sùng văn (Coi trọng văn hóa). Ngài ban cuốn sách này cho Hoàng thái tử Lý Trị (sau này là Đường Cao Tông), trình bày sáng tỏ đạo trị quốc của bậc đế vương, để lại tấm gương mẫu mực cho vạn đời sau soi chiếu.
“Đế Phạm Tự”
“Trẫm văn đại đức viết sinh, đại bảo viết vị, biện kì thượng hạ, thụ chi quân thần. Sở dĩ phủ dục lê nguyên, quân đào thứ loại, tự phi khắc minh khắc triết, duẫn vũ duẫn văn, hoàng thiên quyến mệnh, lịch sổ tại cung, an khả dĩ lạm ác linh đồ, thao lâm thần khí. Thị dĩ thúy quy tiến Đường Nghiêu chi đức, nguyên khuê tích Hạ Vũ chi công. Đan tự trình tường, chu khai thất bách chi tộ; tố linh biểu thụy, hán khải trọng thế chi cơ. Do thử quan chi, đế vương chi nghiệp, phi khả dĩ lực tranh giả hĩ.
Tích tùy quý bản đãng, hải nội phân băng, tiên hoàng dĩ thần vũ chi tư, đương kinh luân chi hội, trảm linh xà nhi định vương nghiệp, khải kim kính nhi ác thiên xu. Nhiên do ngũ nhạc hàm phân, tam quang tập diệu, sài lang thượng ngạnh, phong trần vị trữ. Trẫm dĩ nhược quan chi niên, hoài khảng khái chi chí, tư tĩnh đại nan, dĩ tể thương sinh. Cung hoàn giáp trụ, thân đương thỉ thạch, tịch đối ngư lân chi trận, triêu lâm hạc dực chi vi, địch vô đại nhi bất tồi, binh hà kiên nhi bất toái. Tiễn trường kình nhi thanh tứ hải, tảo sàm thương nhi khuếch bát hoành, thừa khánh thiên hoàng, đăng huy tuyền cực. Tập trọng quang chi vĩnh nghiệp, kế bảo lục chi long cơ, chiến chiến căng căng, nhược lâm thâm nhi ngự hủ, nhật thận nhất nhật, tư thiện thủy nhi lệnh chung.
Nhữ dĩ ấu niên, thiên chung từ ái, nghĩa phương đa khuyết, đình huấn hữu quai. Trạc tự duy thành chi cư, chúc dĩ thiểu hải chi nhâm, vị biện quân thần chi lễ tiết, bất tri giá sắc chi gian nan, trẫm mỗi tư thử vi ưu, vị thường bất phế tẩm vong thực. Tự hiên hạo dĩ hàng, hất chí chu tùy, dĩ kinh thiên vĩ đích chi quân, toản nghiệp thừa cơ chi chủ, hưng vong trì loạn, kì đạo hoán nhiên. Sở dĩ phi kính tiền tung, bác thải sử tịch, tụ kì yếu ngôn, dĩ vi cận giới vân nhĩ”.
“Đế Phạm” do Đường Thái Tông soạn. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
Đại ý là: Ta nghe rằng, đức lớn của trời đất ở chỗ nuôi dưỡng muôn vật; báu vật lớn của bậc thánh nhân là ngôi đế vương, dùng để phân định tôn ti trên dưới, xác lập danh phận vua tôi, nuôi dưỡng bách tính, giáo hóa dân chúng. Nếu không phải là bậc quân chủ thông minh sáng suốt, văn võ kiêm toàn, được trời cao che chở và phù trợ, thì làm sao có điềm lành, bảo vật linh thiêng ứng hiện để lên ngôi hoàng đế? Đường Nghiêu có thánh đức, thần quy dâng “Hà đồ” ở sông Thúy Quy; Đại Vũ trị thủy có công lớn, trời ban ngọc khuê; chim đỏ ngậm sách son bay đến núi Kỳ Sơn, truyền mệnh trời cho Chu Văn Vương, mở nên cơ nghiệp 800 năm nhà Chu. Ngôi vị đế vương là do trời định, tuyệt không thể dùng mưu trí hay sức lực mà giành được.
Cuối đời nhà Tùy, thiên hạ tan vỡ. Đường Cao Tổ với phong thái uy vũ, gặp lúc thay triều đổi đại, khởi binh dẹp loạn, dựng nên Đại Đường, làm chủ thiên hạ. Khi ấy, chư hầu cát cứ, trời đất u ám, sói lang hoành hành, thiên hạ chưa yên. Ta năm 18 tuổi, mang chí lớn khẳng khái, muốn dẹp đại loạn, cứu giúp muôn dân; khoác giáp ra trận, không có địch nào lớn mà không phá, không có quân nào mạnh mà không tan, làm trong sạch bốn biển, bình định tám phương. Sau đó lên ngôi hoàng đế, kế thừa sự nghiệp thống nhất đất nước. Lúc nào cũng run sợ dè dặt như đứng bên vực sâu, như lái cỗ xe mục; mỗi ngày đều thận trọng, suy nghĩ đạo trị nước an dân, làm sao khởi đầu tốt mà kết thúc cũng tốt.
Ngươi từ thân phận phiên vương được lập làm Thái tử, gánh vác trọng trách kế thừa ngôi báu. Mỗi khi nghĩ đến việc ngươi lớn lên trong chốn thâm cung, không hiểu lễ tiết vua tôi, không biết nỗi gian khó của dân chúng, ta vô cùng lo lắng, thường đến mức quên ăn quên ngủ. Ta lấy lịch sử làm gương, từ Hoàng Đế Hiên Viên trở xuống đến Bắc Chu, nhà Tùy, chọn lấy đạo lý của các bậc minh quân kinh bang tế thế, người gây dựng và kế thừa cơ nghiệp, cùng lẽ hưng vong trị loạn, để ngươi hiểu xưa biết nay, lấy đó làm răn.
Trong phần “Quân Thể”, Thái Tông cho rằng: Vua là người đứng đầu thiên hạ, phải từ bi với chúng sinh, dùng uy đức để cảm hóa:
“Phu dân giả, quốc chi tiên; quốc giả, quân chi bổn. Nhân chủ chi thể, như sơn nhạc yên, cao tuấn nhi bất động; như nhật nguyệt yên, chân minh nhi phổ chiếu. Ức triệu thứ chi sở chiêm ngưỡng, thiên hạ chi sở quy vãng. Khoan đại kì chí, túc dĩ kiêm bao; bình chính kì tâm, túc dĩ chế đoạn; phi uy đức vô dĩ trí viễn, phi từ hậu vô dĩ hoài dân. Phủ cửu tộc dĩ nhân, tiếp đại thần dĩ lễ. Phụng tiên tư hiếu, xử hậu tư cung, khuynh kỷ cần lao, dĩ hành đức nghĩa, thử nãi quân chi thể dã”.
Tạm dịch:
Dân là gốc của nước, nước là nền của vua. Thể của bậc quân chủ nhân dân như núi cao, vững mà không lay; như mặt trời mặt trăng, sáng mà soi khắp. Là nơi trăm họ ngưỡng vọng, là chốn thiên hạ quy về. Chí phải rộng lớn để bao dung, tâm phải công chính để quyết đoán; không có uy đức thì không thể cảm hóa xa, không có lòng nhân hậu thì không thể thu phục dân. Dùng nhân để an thân tộc, dùng lễ để đãi đại thần. Phụng thờ tổ tiên thì nghĩ đến hiếu, đối đãi bề dưới thì nghĩ đến kính; dốc sức cần lao, thực hành đức nghĩa — đó chính là thể của bậc quân vương.
“Đế Phạm – Quân Thể” (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
Kiến Thân (Thiết lập thân tộc)
Nội dung luận thuật về tầm quan trọng của việc phân phong các phiên vương để làm lá chắn bảo vệ, củng cố nền móng quốc gia.
“Phu lục hợp khoáng đạo, đại bảo (Đế vị) trọng nhâm. Khoáng đạo bất khả thiên chế (độc trì), cố dữ nhân cộng trì chi; trọng nhâm bất khả độc cư, cố dữ nhân cộng thủ chi. Thị dĩ phong kiến thân thích, dĩ vi phiên vệ, an nguy đồng lực, thịnh ai nhất tâm, viễn cận tương trì, thân sơ lưỡng dụng, tắc tịnh kiêm (hỗ tương kiêm tịnh) lộ tắc, nghịch tiết bất sinh”.
“Phu phong chi thái cường, tắc vi phệ tề chi hoạn; trí chi thái nhược tắc vô cố bổn chi long. Do thử nhi ngôn, mạc nhược chúng kiến tông thân nhi thiểu lực, sử khinh trọng tương trấn, ưu nhạc thị đồng, tắc thượng vô sai kị chi tâm, hạ vô xâm oan chi lự”.
Tạm dịch:
Phàm đạo trong lục hợp (thiên hạ) vốn rộng lớn, ngôi báu (đế vị) là trọng trách lớn lao. Đạo rộng lớn thì không thể một mình cai trị (độc trị), nên phải cùng người trị vì; trọng trách lớn lao thì không thể một mình nắm giữ, nên phải cùng người gìn giữ. Thế nên, phân phong cho anh em họ hàng để làm lá chắn che chở (phiên vệ), lúc an nguy cùng chung sức, khi thịnh suy cùng một lòng, xa gần hỗ trợ lẫn nhau, thân sơ đều được trọng dụng; có như vậy thì con đường thôn tính lẫn nhau sẽ bị ngăn chặn, kẻ có ý đồ phản nghịch cũng không thể nảy sinh. Tuy nhiên, nếu phong cho các vương quá mạnh thì sẽ gây ra họa “tự cắn rốn mình” (họa nội loạn khôn lường); nhưng nếu để họ quá yếu thì không đủ sức làm gốc rễ vững bền cho đất nước. Xét từ lẽ đó, chi bằng hãy phong cho nhiều tông thân nhưng cấp cho họ ít quyền lực, khiến cho thế lực nặng nhẹ tự kiềm chế lẫn nhau, buồn vui cùng hưởng. Như vậy, ở trên (vua) không có lòng nghi kỵ, ở dưới (phiên vương) không có nỗi lo bị xâm phạm hay hàm oan”.
Hai chương “Cầu Hiền” và “Thẩm Quan” trình bày việc bậc đế vương nên có tấm lòng rộng mở, tìm cầu và trọng dụng những người trung lương để phò tá việc trị quốc, đồng thời khi tuyển chọn quan lại cần phải minh bạch về chức trách, đo lường được tài năng để sử dụng, từ đó thực hiện việc giáo hóa
“Phu quốc chi khuông phụ, tất đãi trung lương, nhâm sử đắc nhân, thiên hạ tự trì. Cố nghiêu mệnh Tứ Nhạc (Nghiêu thần), Thuấn cử Bát Nguyên (tài tử), dĩ thành cung kỷ (cung kính tự trì) chi long, dụng tán khâm minh chi đạo. Sĩ chi cư thế, hiền chi lập thân, mạc bất tập dực (thu sí) ẩn lân (tàng hình), đãi phong vân chi vận, hoài kì uẩn dị, tư hội ngộ chi thu. Thị dĩ minh quân bàng cầu tuấn nghệ (đức cao vọng trọng), bác phóng anh hiền, sưu dương trắc lậu (đích vị để hạ). Bất dĩ ti nhi bất dụng, bất dĩ nhục nhi bất tôn”.
Tạm dịch:
Sự phò tá giúp sửa trị quốc gia tất phải đợi kẻ trung lương; dùng người mà đắc nhân tâm thì thiên hạ tự khắc thái bình. Cho nên vua Nghiêu mệnh cho Tứ Nhạc, vua Thuấn cử ra Bát Nguyên, nhờ đó mà thành tựu được sự cung kính tự thân, làm sáng rõ đạo trị nước sáng suốt. Kẻ sĩ ở đời, người hiền lập thân, ai nấy đều thu cánh giấu mình, đợi vận phong vân, ôm giữ chí lạ tài cao, trông mong vào thời cơ gặp gỡ. Thế nên, minh quân phải tìm kiếm tuấn kiệt khắp nơi, hỏi han rộng rãi bậc anh hiền, lục tìm và đề bạt cả những người ở chốn bần hàn, địa vị thấp kém. Đừng vì họ địa vị thấp mà không dùng, đừng vì họ từng chịu nhục mà không tôn trọng.
“Phu thiết quan phân chức, sở dĩ xiển hóa tuyên phong. Cố minh chủ chi nhâm nhân, như xảo tượng chi chế mộc, trực giả dĩ vi viên, khúc giả dĩ vi luân, trường giả dĩ vi đống lương, đoản giả dĩ vi củng giác, vô khúc trực trường đoản, các hữu sở thi. Minh chủ chi nhâm nhân, diệc do như thị dã, trí giả thủ kỳ mưu, ngu giả thủ kỳ lực, dũng giả thủ kỳ uy, khiếp giả thủ kỳ thận, vô trí, ngu, dũng, khiếp, kiêm nhi dụng chi. Cố lương tượng vô khí tài, minh chủ vô khí sĩ. Bất dĩ nhất ác vong kỳ thiện, vật dĩ tiểu hà yểm kỳ công”.
Tạm dịch:
Thiết lập quan lại, phân chia chức trách chính là để làm sáng tỏ sự giáo hóa, tuyên truyền phong khí tốt đẹp. Thế nên, bậc minh chủ dùng người cũng giống như thợ giỏi dùng gỗ: gỗ thẳng thì dùng làm càng xe, gỗ cong thì dùng làm bánh xe, gỗ dài thì dùng làm xà cột, gỗ ngắn thì dùng làm kèo góc. Dù cong hay thẳng, dài hay ngắn, mỗi thứ đều có chỗ để thi thố. Bậc minh chủ dùng người cũng lại như thế: người trí thì lấy mưu kế, người ngu thì lấy sức lực, người dũng thì lấy uy phong, người nhát thì lấy sự thận trọng. Dù là trí, ngu, dũng hay khiếp nhược, tất cả đều được dùng đúng chỗ. Vậy nên, thợ giỏi không có gỗ bỏ đi, minh chủ không có hiền sĩ bị bỏ mặc. Đừng vì một tính xấu mà quên đi cái sở trường của họ, chớ vì một khuyết điểm nhỏ mà che lấp đi công lao của họ.
“Quân nhân ngự hạ, thống cực (quân vị) lý thì (tuần lý tứ thì), độc vận phương thốn chi tâm, dĩ quát cửu khu (toàn quốc) chi nội, bất tư chúng lực hà dĩ thành công? Tất tu minh chức thẩm hiền, trạch tài phân lộc. Đắc kỳ nhân tắc phong hành hóa hiệp (giáo hóa), thất kỳ dụng tắc khuy giáo (bại phôi phong khí) thương dân”.
Tạm dịch:
Bậc quân chủ cai trị kẻ dưới, nắm giữ ngôi cao để trị vì thời thế, nếu chỉ vận dụng duy nhất tâm trí hạn hẹp của bản thân mà muốn bao quát cả chín phương trời đất (cả nước), thì nếu không dựa vào sức mạnh của tầng lớp đại chúng, sao có thể thành công? Chính vì vậy, nhất thiết phải làm rõ chức trách, xem xét người hiền, lựa chọn tài năng để ban phát bổng lộc. Tìm được đúng người thì phong khí tốt đẹp sẽ lan tỏa, giáo hóa được hòa hợp; trái lại, nếu dùng sai người thì sẽ bại hoại phong khí, gây tổn hại cho nhân dân.
Hai chương “Nạp Gián” (Tiếp nhận lời can gián) và “Khứ Sàm” (Loại bỏ lời sàm tấu) trình bày việc quân vương phải biết khiêm tốn nghe lời can gián, khuyến khích nói lời thật, gần gũi trung thần, xa rời kẻ sàm nịnh, nêu cao phong khí trung chính, khiến người trung thành dốc hết tâm can, người trí huệ hiến trọn mưu kế.
“Phu vương giả, cao cư thâm thị, khuy thông trở minh. Khủng hữu quá nhi bất văn, cụ hữu khuyết nhi mạc bổ. Sở dĩ thiết đào thụ mộc, tư hiến thế chi mưu; khuynh nhĩ hư tâm, trữ trung chính chi thuyết. Ngôn chi nhi thị, tuy tại phó đãi sô nhiêu, do bất khả khí dã; ngôn chi nhi phi, tuy tại vương hầu khanh tướng, vị tất khả dung. Kỳ nghĩa khả quan, bất trách kỳ biện; kỳ lý khả dụng, bất trách kỳ văn. Thiết đào thụ mộc: Đào, đào cổ, vũ thiết đào cổ dĩ đãi tứ phương chi sĩ, thuấn hữu phỉ báng chi mộc. Phó đãi sô nhiêu: Sô nhiêu, cát thảo đả sài nhân, đa chỉ tại dã chi sĩ”.
“Phu sàm nịnh chi đồ, quốc chi mâu tặc dã”. “Vương giả dục minh, sàm nhân tế chi”.
“Chỉ cung lệ hành, mạc thượng vu trung ngôn; hủy đức bại tâm, mạc du vu sàm nịnh”.
“Minh vương nạp gián, bệnh tựu khổ nhi năng tiêu; ám chủ tòng du, mệnh nhân cam nhi trí vẫn. Khả bất giới tai! Khả bất giới tai!”
Tạm dịch:
Phàm là bậc vương giả, ở ngôi cao thì tầm nhìn bị che lấp, thính giác và thị giác dễ bị cản trở. Luôn lo sợ có lỗi mà không được nghe, sợ có thiếu sót mà không được bù đắp. Thế nên (người xưa) mới đặt trống Đào, dựng cây Mộc để mong cầu mưu kế sửa đổi; nghiêng tai hạ mình để chờ đợi những lời trung chính. Lời nói mà đúng, dù là kẻ tôi tớ hay người cắt cỏ kiếm củi cũng không thể bỏ qua; lời nói mà sai, dù là bậc vương hầu khanh tướng cũng chưa chắc đã được dung thứ. Chỉ cần ý nghĩa đáng để xem xét thì không trách cứ cách đối đáp; chỉ cần lý lẽ có thể dùng được thì không bắt bẻ văn chương.
Phàm là những kẻ sàm nịnh, chính là sâu mọt của quốc gia. Bậc vương giả muốn sáng suốt, nhưng kẻ sàm nịnh lại che lấp đi sự sáng suốt ấy.
Để rèn giũa bản thân và tôi luyện phẩm hạnh, không gì quý bằng lời nói trung thực; để hủy hoại đạo đức và làm bại hoại tâm tính, không gì nguy bằng lời sàm nịnh.
Minh quân nghe lời can gián, giống như bệnh gặp thuốc đắng mà khỏi; ám chúa nghe lời nịnh hót, giống như tính mạng vì miếng ngọt mà tiêu vong. Há chẳng đáng răn đe sao! Há chẳng đáng răn đe sao!
Hai chương “Giới Doanh” (Răn đe kiêu ngạo, tự mãn) và “Sùng Kiệm” (Coi trọng tiết kiệm) trình bày việc quân vương nên tu thân dưỡng tính, răn đe sự xa hoa, thực hành tiết kiệm, làm dày thêm đức hạnh để hóa dục dân chúng, tạo nên một thời đại phong tục thuần hậu, dân chúng chất phác. “Phu quân giả, kiệm dĩ dưỡng tính, tĩnh dĩ tu thân. Kiệm tắc nhân bất lao, tĩnh tắc hạ bất nhiễu. Nhân lao tắc oán khởi, hạ nhiễu tắc chính quai”.
“Phu thánh thế chi quân, tồn hồ tiết kiệm. Phú quý nghiễm đại, thủ chi dĩ ước; duệ trí thông minh, thủ chi dĩ ngu. Bất dĩ thân tôn nhi kiêu nhân, bất dĩ đức hậu nhi căng vật”.
“Xa kiệm do nhân, an nguy tại kỷ. Ngũ quan cận bế, tắc gia mệnh viễn doanh; thiên dục nội công, tắc hung nguyên ngoại phát”.
Tạm dịch:
Phàm là bậc quân chủ, dùng tiết kiệm để tu dưỡng tâm tính, dùng thanh tĩnh để tu thấu bản thân. Tiết kiệm thì dân không phải lao dịch khổ sở, thanh tĩnh thì kẻ dưới không bị nhiễu nhương. Dân lao khổ thì oán hận nảy sinh, kẻ dưới bị nhiễu nhương thì chính sự rối loạn.
Bậc quân chủ thời thánh trị, cốt ở chỗ tiết kiệm. Dẫu phú quý rộng lớn, vẫn giữ mình bằng sự giản dị; dẫu thông minh cơ trí, vẫn giữ mình bằng vẻ ngu ngơ (khiêm nhường). Không vì bản thân tôn quý mà kiêu ngạo với người, không vì đức hạnh cao dày mà tự phụ với vạn vật.
Xa hoa hay tiết kiệm là do người, an nguy hay họa phúc là tại mình. Nếu ngũ quan (năm giác quan) được canh giữ nghiêm cẩn, thì mệnh lành sẽ bền vững xa rộng; nếu nghìn ham muốn tấn công từ bên trong, thì nguồn cơn của điềm hung sẽ phát tác ra bên ngoài.
Hai chương “Thưởng Phạt” (Khen thưởng và Xử phạt) và “Vụ Nông” (Chăm lo nông nghiệp) trình bày việc quân vương phải song hành cả từ bi lẫn uy nghiêm; thưởng phạt phân minh để biểu dương cái thiện, ức chế cái ác; khuyến khích canh tác dệt vải để khiến người dân quay về với cái gốc của mình, đưa phong tục trở lại sự thuần chân.
“Phu thiên chi dục vật, do quân chi ngự chúng. Thiên dĩ hàn thử vi đức, quân dĩ nhân ái vi tâm”.
“Hiển phạt dĩ uy chi, minh thưởng dĩ hóa chi. Uy lập tắc ác giả cụ, hóa hành tắc thiện giả khuyến”.
“Phu thực vi nhân thiên, nông vi chính bản. Thương lẫm thực tắc tri lễ tiết, y thực túc tắc chí liêm sỉ”.
“Mạc nhược cấm tuyệt phù hoa, khuyến khóa canh chức, sử nhân hoàn kỳ bản, tục phản kỳ chân, tắc cạnh hoài nhân nghĩa chi tâm, vĩnh tuyệt tham tàn chi lộ, thử vụ nông chi bản dã”.
Tạm dịch:
Phàm là Trời nuôi dưỡng vạn vật cũng giống như vua cai quản dân chúng. Trời lấy nóng lạnh (các mùa) làm đức, vua lấy nhân ái làm tâm.
Dùng hình phạt rõ ràng để răn đe bằng uy thế, dùng khen thưởng minh bạch để cảm hóa dân chúng. Lập uy thế thì kẻ ác biết sợ, cảm hóa thì người thiện được khích lệ.
Phàm là ăn uống chính là việc lớn của con người (Thực vi nhân thiên), nông nghiệp là gốc rễ của chính sự. Kho lương đầy đủ thì dân mới biết đến lễ tiết, cơm áo no đủ thì dân mới thấu rõ liêm sỉ.
Chẳng gì bằng cấm tuyệt thói phù hoa, khuyến khích việc canh tác dệt vải, khiến con người quay về với cái gốc, phong tục trở lại với sự chân chất. Có như thế, ai nấy đều ôm giữ lòng nhân nghĩa, vĩnh viễn dứt bỏ con đường tham lam tàn bạo, đó chính là cái gốc của việc chăm lo nông nghiệp vậy.
Hai chương “Duyệt Vũ” (Rèn luyện quân sự) và “Sùng Văn” (Coi trọng văn hóa) giảng về công lao của hai đạo Văn – Võ, không thể thiên vị bên nào.
“Phu binh giáp giả, quốc chi hung khí dã. Thổ địa tuy nghiễm, hảo chiến tắc nhân điêu; bang quốc tuy an, cức chiến tắc nhân đãi”.
“Phu công thành thiết nhạc, trì định chế lễ. Lễ nhạc chi hưng, dĩ nho vi bản. Hoành phong đạo tục, mạc thượng vu văn; phu giáo huấn nhân, mạc thiện vu học”.
“Chí nhược trường khí tuyên địa, thành bại định hồ phong đoan; cự lãng thao thiên, hưng vong quyết hồ nhất trận; đương thử chi tế, tắc quý kiền qua nhi tiện tường tự (học giáo). Cập hồ hải nhạc ký yến, ba trần dĩ thanh, yển thất đức (vũ công) chi dư uy, phu cửu công (văn trì) chi đại hóa. Đương thử chi tế, tắc khinh giáp trụ nhi trọng thi thư. Thị tri văn vũ nhị đồ, xá nhất bất khả, dữ thì ưu liệt, các hữu kỳ nghi. Vũ sĩ nho nhân, yên khả phế dã”.
Tạm dịch:
Phàm binh đao giáp trụ là thứ hung khí của quốc gia. Đất đai dù rộng lớn, hễ hiếu chiến thì dân bần hàn héo hắt; đất nước dù yên ổn, hễ dấy binh liên miên thì dân rơi vào cảnh nguy vong.
Khi thành công thì đặt ra âm nhạc, khi trị định thì chế định lễ nghi. Sự hưng thịnh của Lễ Nhạc lấy Nho học làm gốc. Để mở rộng phong khí, dẫn dắt phong tục, không gì cao quý bằng Văn; để ban bố giáo hóa, răn dạy lòng người, không gì tốt đẹp bằng sự Học.
Đến như lúc khí thế ngất trời, thành bại định đoạt nơi đầu ngọn giáo; lúc sóng dữ ngập trời, hưng vong quyết chiến chỉ trong một trận; vào những thời khắc ấy, người ta quý trọng binh đao mà xem nhẹ trường học.
Cho đến khi biển yên núi lặng, bụi bặm sóng gió đã tan, uy thế của “Thất đức” (võ công) được tạm nghỉ, sự giáo hóa to lớn của “Cửu công” (văn trị) được ban trải khắp nơi; vào những thời khắc ấy, người ta lại nhẹ giáp trụ mà trọng thi thư. Thế mới biết hai con đường Văn – Võ, thiếu một đều không được, tùy thời thế mà có lúc tốt lúc xấu, mỗi thứ đều có sự phù hợp riêng. Võ sĩ hay người học trò, sao có thể bỏ đi bên nào?
Trong phần “Đế Phạm Hậu Tự”, Đường Thái Tông một lần nữa nhấn mạnh 12 điều này chính là đại cương của bậc đế vương, và việc tu thiện dưỡng đức chính là cái gốc căn bản.
“Thử thập nhị điều giả, đế vương chi đại cương dã. An nguy hưng phế, hàm tại tư yên”.
“Ngã tể dục thương sinh kỳ ích đa, bình định hoàn vũ kỳ công đại, ích đa tổn thiểu, nhân bất oán; công đại quá vi, đức vị khuy. Nhiên do chi tẫn mỹ chi tung, vu yên đa quý; tẫn thiện chi đạo, cố thử hoài tàm. Huống nhữ vô tiêm hào chi công, trực duyên cơ nhi lý khánh? Nhược sùng thiện dĩ nghiễm đức, tắc nghiệp thái thân an; nhược tứ tình dĩ tòng phi, tắc nghiệp khuynh thân tang. Thả thành trì bại tốc giả, quốc cơ dã; thất dịch đắc nan giả, thiên vị dã. Khả bất tích tai?”
Tạm dịch:
Mười hai điều này chính là đại cương của bậc đế vương. Sự an nguy, hưng thịnh hay suy vong của quốc gia đều nằm cả ở đây vậy.
Trẫm cứu giúp và nuôi dưỡng thương sinh, lợi ích mang lại rất nhiều; bình định hoàn vũ, công lao cực kỳ to lớn. Vì cái lợi nhiều mà cái hại ít nên dân không oán hận; vì công lao lớn mà lỗi lầm nhỏ nên uy đức chưa bị tổn khuyết. Tuy nhiên, soi xét lại dấu chân dù đã cố gắng vẹn mỹ, Trẫm vẫn thấy đa phần đáng hổ thẹn; đối chiếu với đạo lý thiện lương tuyệt đối, Trẫm vẫn cảm thấy tự thẹn trong lòng. Huống chi con chẳng mảy may có chút công lao, chỉ nhờ dựa vào đại nghiệp (của tổ tiên) mà hưởng phúc? Nếu con biết sùng bái cái thiện để mở rộng đức hạnh, thì sự nghiệp sẽ hanh thông, bản thân sẽ yên ổn. Nếu con buông thả tình mà làm điều sai trái, thì sự nghiệp sẽ đổ vỡ, bản thân sẽ tiêu vong. Hơn nữa, thứ gây dựng thì chậm mà sụp đổ thì nhanh chính là nền móng quốc gia; thứ dễ mất mà khó đắc được chính là ngôi vị Thiên tử. Há chẳng đáng trân trọng sao?”
“Đế Phạm” do Đường Thái Tông soạn. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
(Còn tiếp)
Dịch từ:


