Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật Thiên cổ anh hùng của văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm
[ChanhKien.org]
Hán Vũ Đế là bậc thiên cổ nhất Đế, trên cùng Tần Thủy Hoàng được xưng “Tần Hoàng Hán Vũ”, dưới cùng Đường Thái Tông khai mở ra thời kỳ “Hán Đường Thịnh Thế”. (Ảnh: Dữu Tử/The Epoch Times)
Hán Vũ Đế tại vị 54 năm, cả đời luôn quyết chí tiến thủ, văn trị lẫn võ công đều lập nên những công nghiệp chưa từng có tiền lệ, đưa đế quốc Đại Hán tiến tới đỉnh cao hưng thịnh. Tuy nhiên, ẩn sau sự huy hoàng ấy cũng tiềm ẩn những nguy cơ. Vào khoảng năm thứ 20 sau khi Hán Vũ Đế đăng cơ, quốc gia đã xuất hiện khủng hoảng tài chính nghiêm trọng; đến những năm cuối đời, ông lại gặp phải những biến cố lớn: Hoàng hậu Vệ Tử Phu người đã gắn bó cùng ông nửa đời và Thái tử Lưu Cứ do đích thân ông bồi dưỡng lần lượt tự sát, quốc gia nhất thời rơi vào cảnh khốn khó vì không có người kế vị; thêm vào đó, trong triều không còn những đại tướng như Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh, cuộc chiến đánh Hung Nô của nhà Hán cũng gặp phải thất bại.
Đối mặt với muôn vàn khủng hoảng, Hán Vũ Đế đã điềm tĩnh ứng phó ra sao để duy trì chính quyền nhà Hán, và ông đã để lại những giai thoại lưu truyền thiên cổ nào đây?
Các biện pháp chấn hưng kinh tế
Chúng ta biết rằng Hán Vũ Đế cả đời đã làm được nhiều việc lớn: đối ngoại thì đánh cho Hung Nô tổn thất nặng nề, xuất binh bốn phía mở mang bờ cõi; đối nội thì nhiều lần tuần du, Phong Thiện tại Thái Sơn, triển khai các đại công trình như xây thành Sóc Phương, khai thông Tây Nam Di, trị thủy sông Hoàng Hà. Đằng sau những công tích ấy đều không thể tách rời sự hậu thuẫn của nguồn tài lực hùng hậu. Chẳng hạn, chỉ riêng một lần Hán Vũ Đế ban thưởng cho tướng sĩ và vỗ về quân Hung Nô hàng phục đã tiêu tốn hơn mười tỷ đồng; chi phí cho các công trình thủy lợi khác nhau cũng được tính bằng đơn vị hàng tỷ đồng. Cứ như vậy, số của cải tích lũy được từ thời “Văn Cảnh chi trị” đầu nhà Hán, chẳng mấy chốc đã bị tiêu dùng hết.
Chân dung Tang Hoằng Dương, trích từ “Giang Tổ Nghi Hưng Mai Tử Cảnh Tang Thị Tông Phổ” được biên soạn vào thời nhà Thanh. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
Sau trận Mạc Bắc vào năm Nguyên Thú thứ ba (năm 120 TCN), ngân khố quốc gia rơi vào tình trạng thu không đủ chi. Năm sau đó, khu vực Sơn Đông xảy ra lũ lụt, triều đình mở kho lương cứu tế, vay mượn từ các phú hào nhưng vẫn không thể giải quyết được vấn đề dân đói. Vì vậy, triều đình đã di dời dân tị nạn sang phía tây Hàm Cốc Quan, chi phí ăn ở dọc đường đều do quan phủ cung cấp, nhưng tài chính của chính quyền địa phương cũng nhanh chóng cạn kiệt.
Hán Vũ Đế với tầm nhìn xa trông rộng đã trọng dụng những bề tôi có đầu óc kinh doanh, giỏi hưng lợi, thông qua cải cách chế độ kinh tế mà hóa giải khủng hoảng. Trong số đó, những đại thần quan trọng hơn cả là “Lý tài tam kiệt” (Ba bậc anh tài về quản lý tài chính), gồm Đông Quách Hàm Dương, Khổng Cận và Tang Hoằng Dương.
Đông Quách Hàm Dương xuất thân từ gia đình thương gia buôn muối, Khổng Cận kinh doanh nghề luyện sắt, cả hai đều là những thương gia giàu có. Khi Hán Vũ Đế thực thi chính sách độc quyền muối và sắt, ông đã bổ nhiệm hai người này giữ chức Đại Nông Thừa, để họ phát huy sở trường kinh doanh muối và sắt cho quốc gia. Tang Hoằng Dương sinh ra trong gia đình phú thương, năm 13 tuổi nhờ tinh thông tính nhẩm mà được tuyển làm Thị trung, hầu cận bên cạnh Hán Vũ Đế, mối quan hệ quân thần vô cùng thân thiết. Đến khi nhà Hán gặp khủng hoảng kinh tế, Tang Hoằng Dương nhanh chóng được trọng dụng, nắm giữ đại quyền tài chính. Theo đề nghị của những nhân tài thương nghiệp này, Hán Vũ Đế đã đưa ra một loạt điều chỉnh về chính sách kinh tế, tích lũy lại của cải trong thời gian ngắn.
Biện pháp đầu tiên chính là quốc hữu hóa ngành muối và sắt vốn mang lại lợi nhuận rất cao, thiết lập các cơ quan quản lý muối sắt trên khắp cả nước, bãi bỏ hình thức tư doanh (kinh doanh tư nhân). Khi đó, cả nước có 27 quận lập hơn 30 trạm quản lý muối, 40 quận quốc lập gần 50 trạm quản lý sắt, tất cả đều nằm dưới quyền của Đại Nông Thừa. Trong những năm Nguyên Đỉnh, nhà Hán liên tục dùng binh, phần lớn chi phí đều dựa vào lợi nhuận từ muối và sắt do quan phủ kiểm soát cung cấp. Ngoài ra, do quy mô quốc doanh lớn, nhân lực dồi dào nên kỹ thuật nấu muối và đúc sắt đã có tiến bộ vượt bậc so với các xưởng thủ công dân gian. Sau này, quyền kinh doanh rượu cũng do nhà nước độc quyền.
Biện pháp thứ hai là thực thi chính sách Quân thâu và Bình chuẩn, đây là biện pháp để nhà nước kiểm soát việc vận chuyển, mua bán và giá cả hàng hóa. Quân thâu tương tự như ngành logistics ngày nay, tức là thiết lập các chức quan Quân thâu ở các địa phương để phụ trách vận chuyển hàng hóa; họ đem những sản phẩm vốn phải vận chuyển về kinh đô chuyển đến bán ở những nơi có giá cao theo giá thị trường, nhằm giảm bớt chi phí vận chuyển cho các quận quốc ở xa, đồng thời giúp triều đình trung ương thu lợi trong quá trình trung chuyển và giao dịch. Bình chuẩn chính là điều tiết giá cả, tại kinh thành lập “Ủy phủ” để thu gom hàng hóa trong thiên hạ, thông qua việc mua rẻ bán đắt để tăng thu nhập tài chính.
Biện pháp thứ ba là thực hiện chế độ Toán mân và Cáo mân trong một khoảng thời gian, tức là thu thuế tài sản người dân và xử phạt những kẻ che giấu tài sản.
Còn một biện pháp quan trọng hơn nữa chính là: một lần nữa thống nhất tiền tệ sau thời Tần Thủy Hoàng. Bởi lẽ vào đầu nhà Hán, các địa phương có thể tự đúc tiền, dẫn đến sự hỗn loạn tiền tệ trên thị trường, đồng thời cũng nuôi dưỡng dã tâm của các cường hào và vua nước chư hầu. Đến thời Hán Vũ Đế, nhà nước độc quyền quyền đúc tiền và triển khai đồng tiền thống nhất trên toàn quốc, đó chính là đồng “Ngũ thù tiền” có chất lượng tốt, trọng lượng vừa phải và khó đúc giả.
Vụ án vu cổ
Vu cổ là một loại tà thuật hại người thời cổ đại, được biết đến phổ biến nhất qua hình thức dùng hình nhân gỗ để yểm chú. Người xưa tin thờ Thần minh nên vô cùng căm ghét thuật vu cổ; nếu có kẻ thực hiện điều này trong cung đình sẽ bị xử phạt nghiêm khắc, thậm chí bị xử tử. Trước đó, Trần hoàng hậu của Hán Vũ Đế từng bị phế truất vì dính líu đến án vu cổ. Đến những năm cuối đời Hán Vũ Đế, trong cung cấm lại xảy ra một vụ án vu cổ có phạm vi liên quan rất rộng, sự việc này cũng trở thành biến cố lớn nhất trong cuộc đời ông.
Án vu cổ là một vụ đại án xảy ra vào cuối đời Hán Vũ Đế, có phạm vi liên quan rất rộng. Trong hình là một phần bức họa “Hán Cung Thu Nguyệt Lập Trục” của Viên Diệu thời nhà Thanh. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
Câu chuyện bắt đầu từ Thái tử Lưu Cứ con Hán Vũ Đế. Lưu Cứ là con trưởng của Hán Vũ Đế, khi hạ sinh thì nhà vua đã lên ngôi được khoảng 13 năm nên vô cùng vui mừng. Ngài không chỉ lập mẹ đẻ của Lưu Cứ là Vệ Tử Phu làm Hoàng hậu, mà còn lập Lưu Cứ làm Thái tử ngay từ khi mới 7 tuổi và dày công bồi dưỡng. Hán Vũ Đế đã tuyển chọn những nhà đại nho đức tài vẹn toàn trong hàng đại thần để dạy dỗ Thái tử. Đến khi Thái tử trưởng thành, ngài lại cho xây dựng Bác Vọng uyển để Thái tử tự do kết giao với tân khách, mở mang kiến thức. Về chính sự, mỗi khi Hán Vũ Đế ra ngoài cung tuần du đều giao cho Thái tử coi sóc chính sự; đối với những việc Thái tử quyết định, Hán Vũ Đế cũng không phản đối.
Khi Thái tử khôn lớn, Vệ Tử Phu tuổi tác đã cao, nhan sắc phai nhạt nên dần không còn được sủng ái, trong khi các phi tần trẻ tuổi khác lần lượt hạ sinh hoàng tử. Thêm vào đó, tính cách Thái tử nhân hậu, cẩn trọng, không giống với tính cách của Hán Vũ Đế, quan điểm chính trị cũng khác biệt với phụ hoàng. Điều này khiến Hoàng hậu và Thái tử bắt đầu lo lắng cho tình cảnh của bản thân.
Theo Tư trị thông giám ghi lại, sau khi Hán Vũ Đế nhận ra điều này, trong lúc trò chuyện với cậu của Thái tử là Vệ Thanh đã nói rằng: “Triều đại ta có nhiều việc đang ở giai đoạn sơ khai, lại thêm ngoại tộc không ngừng xâm nhiễu, trẫm nếu không thay đổi chế độ thì hậu thế sẽ mất đi chuẩn mực để nương theo; nếu không xuất quân chinh phạt thì thiên hạ chẳng thể yên định, thế nên bất đắc dĩ mới để bách tính chịu chút khổ nhọc. Nếu hậu thế cũng làm như vậy thì chẳng khác nào dẫm vào vết xe đổ diệt vong của nhà Tần. Thái tử tính cách điềm tĩnh, chắc chắn có thể an định thiên hạ, không khiến trẫm phải lo âu. Muốn tìm một vị quân chủ có thể lấy văn trị quốc, còn ai có thể giỏi hơn Thái tử cơ chứ!” Vệ Thanh đem những lời này của Hán Vũ Đế thuật lại cho chị gái là Vệ Tử Phu, bà liền tháo bỏ trang sức, tự thân đến tạ tội với Hán Vũ Đế.
Tuy nhiên, chính vì sự nhân hậu của Thái tử mà những kẻ tiểu nhân gian tà trong triều đình vì để bảo vệ quyền thế của mình đã bắt đầu cố ý hãm hại ngài, trong đó kẻ độc ác nhất chính là cận thần Giang Sung của Hán Vũ Đế. Có một lần, xe ngựa của Thái tử vô ý đi trên con đường trì đạo (đường dành riêng cho hoàng đế) và bị Giang Sung tố cáo, từ đó hai người kết oán. Năm Chinh Hòa thứ hai (năm 91 TCN), anh rể của Vệ Tử Phu là Tể tướng Công Tôn Hạ cùng con trai bị vu cáo dùng bùa chú vu cổ trù ếm Hoàng đế, bị tống giam rồi xử tử, còn liên lụy khiến con gái và cháu ngoại của Vệ Tử Phu bị giết. Giang Sung thấy Hán Vũ Đế đã lớn tuổi, lo sợ Thái tử đăng cơ sẽ bất lợi cho mình, bèn nghĩ ra độc kế lợi dụng án vu cổ để lật đổ Thái tử. Hắn nhân lúc Hán Vũ Đế lâm bệnh đã tâu rằng, trong cung có khí độc vu cổ, có người đang rủa Hoàng đế. Thế là Hán Vũ Đế để Giang Sung làm sứ giả, điều tra triệt để vụ án vu cổ.
Giang Sung phái người đào bới khắp nơi tìm hình nhân gỗ, trước sau giết hại tới hàng vạn người. Sau đó, hắn bắt đầu tra xét từ những phi tần không được sủng ái, rồi tra thẳng đến cung của Hoàng hậu và Thái tử. Giang Sung đào bới cung điện đến mức không còn chỗ đặt giường, cuối cùng tuyên bố rằng tìm thấy nhiều hình nhân gỗ nhất là ở trong cung Thái tử. Khi đó Hán Vũ Đế đang dưỡng bệnh ở ngoài thành Trường An, người của Thái tử và Hoàng hậu phái đến thỉnh an đều không gặp được Hoàng đế. Thầy của Thái tử là Thạch Đức cho rằng, bị cuốn vào án vu cổ là cực kỳ nguy hiểm, mà hiện tại Hoàng đế sống chết chưa rõ, rõ ràng là Giang Sung đang mượn cơ hội hãm hại Thái tử. Thạch Đức khuyên Thái tử nên giả truyền thánh chỉ giết chết Giang Sung trước, rồi mới từ từ điều tra âm mưu phía sau.
Sau khi giết Giang Sung, vì không rõ tình hình của Hán Vũ Đế nên Thái tử đã dấy binh tự vệ, trong lúc cấp bách đã tổ chức một đội quân gồm thị vệ của Hoàng hậu, tù nhân và cả người Hồ. Lúc này thành Trường An hỗn loạn cực độ, phía Hán Vũ Đế cũng nhận được tin đồn nói rằng Thái tử dấy binh tạo phản. Ban đầu Hán Vũ Đế không tin, phái một sứ giả đi triệu Thái tử đến để hỏi rõ tình hình. Nhưng viên sứ giả này rất sợ hãi, chưa vào đến thành Trường An đã chạy quay về, báo tin giả rằng Thái tử thực sự mưu phản. Hán Vũ Đế lúc này mới hạ lệnh cho Thừa tướng đích thân phát binh đi dẹp loạn, đồng thời thu hồi ấn tín của Hoàng hậu. Vệ Tử Phu biết mình không thể thoát khỏi kiếp nạn này nên đã lặng lẽ tự sát. Sau đó, quân của Tể tướng và quân của Thái tử đại chiến suốt 5 ngày, mấy vạn người tử nạn, máu chảy thành sông, Thái tử bại trận phải bỏ trốn.
Nỗi đau mất con
Vì lầm tưởng Thái tử mưu phản, Hán Vũ Đế vừa đau lòng vừa phẫn nộ, trăm quan cũng không biết phải khuyên giải thế nào. Tuy nhiên, Hổ Quan Tam lão (Hổ Quan là tên địa danh, Tam lão là người phụ trách giáo hóa trong hương, tức là người quản lý công tác giáo dục và trị an địa phương) đã dâng thư lên Hán Vũ Đế, nói rằng Thái tử vừa là người kế thừa đại nghiệp ngàn thu, vừa là con trưởng của Hoàng thượng; còn Giang Sung chỉ là một kẻ bình dân, nhờ được trọng dụng mới trở nên hiển quý, vậy mà hắn lại cấu kết với đám tiểu nhân hãm hại Thái tử, phá hoại tình cảm cha con giữa Hoàng đế và Thái tử. Thái tử tiến không thể gặp được Hoàng đế, thoái lại bị gian thần hãm hại, trong cảnh đường cùng chỉ đành giết chết Giang Sung. Ông cho rằng Thái tử dấy binh chỉ để tự cứu mình, không hề có tâm địa hiểm ác, đồng thời khuyên Hán Vũ Đế không nên tiếp tục truy bắt Thái tử, tránh để ngài phải lưu vong lâu ngày nơi đất khách.
Tranh vẽ Câu Dặc phu nhân, trích từ Bách Mỹ Tân Vịnh Đồ Truyện. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
Hán Vũ Đế sau khi đọc xong đã vô cùng xúc động, nhưng lệnh ân xá còn chưa kịp ban xuống thì bi kịch đã xảy ra. Thái tử tháo chạy về phía Đông, ẩn náu trong một gia đình nghèo khó tại huyện Hồ, Hà Nam; chủ nhà phải dựa vào việc bán giày để phụng dưỡng Thái tử. Thái tử nhớ ra ở địa phương có một người bạn giàu có bèn sai người đi tìm, không ngờ lại bị quan phủ địa phương phát hiện hành tung. Khi quan binh bao vây bắt giữ, Thái tử biết mình không thể thoát được nên đã thắt cổ tự sát trong phòng. Trong lúc hỗn loạn, chủ nhà đã giao đấu với quan binh mà chết, 2 người con trai của Thái tử cũng bị sát hại.
Một năm sau, đến năm Chinh Hòa thứ ba (năm 90 TCN), Hán Vũ Đế khi ấy đã 66 tuổi, các quan viên khi tra lại án vu cổ đã phát hiện ra rất nhiều đều là oan án. Hán Vũ Đế cũng đã thấu hiểu, Thái tử là bị Giang Sung bức đến đường cùng mới dấy binh giết người, chứ không hề có ý mưu phản. Vừa vặn có một vị quan trông giữ miếu thờ Hán Cao Tổ tên là Điền Thiên Thu đã dâng lên Hán Vũ Đế một bản tấu chương, nói rằng: “Con nghịch ngợm dùng binh của cha, tội chỉ đáng phạt đánh đòn. Con của thiên tử vì sai lầm mà giết người thì nên luận tội thế nào đây! Thần nằm mộng thấy một vị bạch đầu ông (ông lão đầu bạc) đã dạy thần nói như vậy”.
Hán Vũ Đế lập tức triệu ông ta vào gặp, bùi ngùi nói rằng, chuyện giữa cha và con thì người ngoài rất khó xen vào, chỉ có ngươi là nói đúng trọng điểm. Những lời này cũng không phải do ngươi nói, ông lão đầu bạc mà ngươi mộng thấy chính là Cao Hoàng đế (Hán Cao Tổ) của chúng ta. Hán Vũ Đế cho rằng Điền Thiên Thu là hiền tài phò tá chính sự, bèn bổ nhiệm ông làm Đại Hồng Lư, lại hạ lệnh tru di cửu tộc nhà Giang Sung, những kẻ khác tham gia mưu hại Thái tử cũng đều bị xử tử. Vì thương tiếc Thái tử Lưu Cứ chết oan, Hán Vũ Đế đặc biệt xây dựng một tòa Tư Tử cung (cung nhớ con), lại ở huyện Hồ xây một tòa Quy Lai Vọng Tư đài. Người trong thiên hạ nghe chuyện đều lấy làm đau lòng.
Lưu Cứ đã qua đời, nhưng quốc gia không thể không có người kế vị, Hán Vũ Đế nén nỗi đau mất con để chọn lựa người kế vị trong số các hoàng tử, cuối cùng đã chọn người con út Lưu Phất Lăng do Câu Dặc phu nhân sinh ra. Câu Dặc phu nhân là người Hà Gian, có lần khi Hán Vũ Đế tuần du ở Hà Gian, một người giỏi xem tướng số nói rằng ở đây có một kỳ nữ, thế là nhà vua triệu một thiếu nữ đến. Thiếu nữ này hai tay nắm chặt thành nắm đấm, không thể duỗi ra được, Hán Vũ Đế đích thân tới gỡ tay nàng thì nắm tay lập tức mở ra được. Thế là thiếu nữ này được đưa vào cung, phong làm Quyền phu nhân (phu nhân nắm tay), cũng gọi là Câu Dặc phu nhân.
Câu Dặc phu nhân rất được Hán Vũ Đế sủng ái những năm cuối đời, mang thai 14 tháng mới sinh hạ hoàng tử Lưu Phất Lăng. Vị Thánh vương Nghiêu thời viễn cổ cũng là do mẹ mang thai 14 tháng mới sinh ra, nên Hán Vũ Đế cho rằng đứa trẻ này phi phàm, bèn xây cho Câu Dặc phu nhân một tòa “Nghiêu Mẫu môn”. Đợi đến khi Lưu Phất Lăng được 5, 6 tuổi, vóc dáng cao lớn, thông minh khác thường, Hán Vũ Đế cảm thấy cậu bé rất giống mình, có ý lập làm Thái tử. Thế là ngài lệnh cho họa sư trong cung vẽ một bức tranh “Chu Công phò Thành Vương” ban cho đại thần Hoắc Quang vốn có tính cách vững vàng, cẩn trọng, nhằm ám chỉ cho quần thần biết ý định muốn lập con út Lưu Phất Lăng làm Thái tử. Đến năm Hậu Nguyên thứ hai (năm 87 TCN), Hán Vũ Đế lâm bệnh nặng, chính thức lập Lưu Phất Lăng mới 8 tuổi làm Thái tử, đồng thời chọn ra 4 vị đại thần phò tá đứng đầu là Hoắc Quang, lúc này mới hoàn thành việc truyền thừa đại nghiệp của đế quốc.
Chiếu Lệnh Luân Đài
Năm Chinh Hòa thứ ba còn xảy ra một sự kiện trọng đại, đó là Lý Quảng Lợi dẫn 7 vạn binh mã xuất chinh đánh Hung Nô. Đây là trận chiến cuối cùng của Lý Quảng Lợi, cũng là trận đánh Hung Nô cuối cùng trong thời đại Hán Vũ Đế. Trước khi lên đường, Tể tướng Lưu Khuất Li đã mở tiệc tiễn chân ông. Khi ấy, ngôi vị Thái tử vẫn đang để trống, Lý Quảng Lợi muốn đưa con trai của em gái mình (Lý phu nhân) là Xương Ấp Vương lên làm Thái tử, nên hy vọng Lưu Khuất Li có thể nói giúp vài lời trước mặt Hán Vũ Đế. Lưu Khuất Li và Lý Quảng Lợi vốn là thông gia, ông ta cũng hy vọng có thể thúc đẩy việc này nên đã nhận lời ngay lập tức.
Ban đầu, quân của Lý Quảng Lợi binh cường mã tráng, chiến sự vô cùng thuận lợi, quân Hung Nô bị đánh đuổi chạy tứ tán khắp nơi. Nhưng 3 tháng sau, có quan viên tố cáo chuyện Lưu Khuất Li và Lý Quảng Lợi mật mưu lập Thái tử, còn mật báo việc phu nhân của Lưu Khuất Li ngầm dùng vu thuật trù ếm Hán Vũ Đế. Kết quả là cả gia đình Lưu Khuất Li bị xử tử, người nhà của Lý Quảng Lợi cũng bị tống giam. Lý Quảng Lợi nghe tin thì vô cùng sợ hãi, hy vọng đại phá Hung Nô để lấy công chuộc tội, bèn mạo hiểm dẫn đại quân thâm nhập sâu vào đất địch, tiến quân liên tục về phía Bắc vượt qua sông Chí Cư. Quân Hán giao chiến với 2 vạn đại quân Hung Nô lại giành được đại thắng.
Tuy nhiên, tin tức người nhà Lý Quảng Lợi bị bắt dần dần lan truyền trong quân Hán, tướng sĩ dưới trướng ông âm thầm bàn bạc, cho rằng Lý Quảng Lợi vì lợi ích cá nhân mà không màng đến sự an nguy của toàn quân, định sẽ khống chế ông để ngăn cản việc tiến quân. Lý Quảng Lợi phát hiện ra, giết chết kẻ chủ mưu, rồi để ổn định quân tâm đã rút đại quân về núi Yên Nhiên. Thiền vu Hung Nô nghe tin, lập tức điều 5 vạn binh mã truy kích quân Hán. Trong đội ngũ của Lý Quảng Lợi lúc này lòng quân dao động, cộng thêm việc ông lo lắng cho sự an toàn của người nhà, cục diện trận chiến lập tức đảo ngược. Quân Hung Nô thừa lúc quân Hán không phòng bị, nửa đêm đào một con hào sâu vài thước trước doanh trại quân Hán; đến rạng sáng lại tập kích từ phía sau. Kết quả là quân Hán tiến thoái lưỡng nan, mất sạch ý chí chiến đấu, 7 vạn binh mã toàn quân bị diệt, Lý Quảng Lợi bại trận đầu hàng.
Từ năm Nguyên Quang thứ hai (năm 133 TCN) đến năm này, Hán Vũ Đế dùng binh đánh Hung Nô hơn 40 năm. Những năm cuối đời gặp phải hàng loạt biến cố, Hán Vũ Đế bắt đầu phản tỉnh về những được mất trong suốt cuộc đời chấp chính, có ý định thay đổi chiến lược mở mang bờ cõi vốn luôn được thực thi bấy lâu. Lúc này, quan đại thần tài chính là Tang Hoằng Dương và những người khác lại đề xuất thực hiện đồn điền tại Luân Đài (nay thuộc huyện Luân Đài, Tân Cương), tức là chiêu mộ dân chúng đến đó trồng trọt sản xuất để bảo đảm lương thực cho quân Hán ở Tây Vực. Nhưng lần này Hán Vũ Đế đã bác bỏ, đồng thời ban bố một bản chiếu thư để bày tỏ tâm chí, đó chính là bản “Luân Đài Tội Kỷ Chiếu” nổi tiếng.
Nội dung của bản chiếu thư này chủ yếu có mấy điểm. Một là phản tỉnh về việc dùng binh chinh phạt nhiều năm, viễn chinh bốn phương khiến đại quân trên đường hành quân không ngừng hao binh tổn tướng, việc vận chuyển lương thảo lại càng khó khăn; trong khi Luân Đài cách phía Tây nước Xa Sư cả ngàn dặm, dù đồn điền thành công thì vấn đề vận chuyển cũng khó lòng giải quyết. Hai là đề ra sách lược bãi bỏ chính sách hà khắc, coi trọng nông nghiệp, Hán Vũ Đế cho rằng lập đồn điền ở Luân Đài sẽ làm tăng thêm gánh nặng cho bách tính, chiến tranh liên miên đã khiến tài chính và dân lực cạn kiệt, việc cấp bách hiện nay là cho dân nghỉ ngơi. Ngoài ra, Hán Vũ Đế cũng không lơ là việc chuẩn bị cho quân đội, ngài đã khôi phục chế độ nuôi ngựa để được miễn trừ lao dịch và thuế khóa.
Việc ban bố chiếu thư này có nghĩa là quốc sách của nhà Hán đã chuyển từ “thượng công” (đề cao công trạng, mở mang) sang “thủ thành” (giữ gìn, củng cố). Đây cũng là bản Tội Kỷ Chiếu (chiếu tự trách mình) đầu tiên do một hoàng đế ban bố trong lịch sử Trung Quốc, thể hiện tấm lòng rộng mở và tầm nhìn sáng suốt của Hán Vũ Đế. Ban Cố đã ca ngợi Hán Vũ Đế rằng: “Thế nên những năm cuối đã từ bỏ đất Luân Đài mà hạ tờ chiếu bi thương, đó chẳng phải là sự hối hận của bậc Thánh nhân sao!” Ông cho rằng Hán Vũ Đế có thể thản nhiên phản tỉnh chính mình, là điều mà chỉ những bậc Thánh nhân mới làm được.
Sau đó Hán Vũ Đế không dùng binh nữa, đồng thời phong Điền Thiên Thu — người từng kêu oan cho Thái tử — làm Tể tướng và Phú Dân Hầu, lấy đó để biểu thị sự điều chỉnh chính sách quốc gia. Sách Tư trị thông giám còn ghi lại, năm Chinh Hòa thứ tư (năm 89 TCN), khi Hán Vũ Đế tế lễ Phong Thiện ở núi Thái Sơn đã khiêm tốn nói: “Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, làm nhiều việc điên cuồng trái với đạo lý, khiến thiên hạ sầu khổ, thật không thể hối hận cho kịp. Từ nay về sau, việc gì gây hại cho bách tính, lãng phí tài nguyên thiên hạ, thảy đều bãi bỏ”. Hán Vũ Đế cho rằng việc mình thúc đẩy dùng binh bốn phương, thực hiện các công trình lớn đã khiến dân chúng phải chịu khổ cực, nên sau này phàm là việc gì xâm hại đến lợi ích của dân và tiêu tốn tài lực quốc gia đều nhất loạt dừng lại. Đoạn lời này cũng có thể coi là lời chú giải cho chiếu Luân Đài.
Lúc này, chỉ còn cách thời điểm Hán Vũ Đế băng hà 2 năm. Hán Vũ Đế kế thừa cơ nghiệp của 6 đời đế vương, một đời khai phá, văn sùng Nho học, võ định bốn phương, chiêu mộ hiền sĩ khắp thiên hạ, đặt nền móng cho Lễ Nhạc pháp độ, tạo ra nhiều thứ “đệ nhất” trong lịch sử. Trong lúc khai sáng một thời đại hưng thịnh, ngài cũng nhận ra những cuộc khủng hoảng tiềm ẩn trong nước, cho nên vào những năm cuối đời đã thay đổi phương hướng, chuyển đổi quốc sách, chỉ rõ con đường cho sự phục hưng sau này của nhà Hán. Vì vậy, các sử gia đã dùng cụm từ “hùng tài đại lược” để ca ngợi Hán Vũ Đế, dùng “hoán nhiên khả thuật” (rực rỡ đáng nêu gương) để tán dương công tích lẫy lừng của ngài. Nhìn lại cuộc đời Hán Vũ Đế, ngài thực xứng đáng không thẹn với danh xưng “Thiên cổ nhất đế”!
(Hết loạt bài này)
Chịu trách nhiệm biên tập bản tiếng Trung: Lý Tinh Thành
(Theo The Epoch Times)
Dịch từ: https://www.epochtimes.com/gb/19/8/14/n11453593.htm



