Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật Thiên cổ anh hùng của văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm
[ChanhKien.org]
Chương 5: Sử ghi nghìn thu – Thịnh thế tu sử
Đường Thái Tông cực kỳ coi trọng văn tự ghi chép lịch sử các triều đại trên vũ đài Hoa Hạ, xem đó là công trình đúc kết tư tưởng nhân loại. Ông đã đích thân hạ lệnh biên soạn xong sáu bộ sử: Lương thư, Trần thư, Bắc Tề thư, Chu thư, Tùy thư và Tấn thư; chiếm 1/4 trong tổng số 24 bộ chính sử do Hoàng đế Càn Long nhà Thanh xác định sau này.
Trong quá trình biên soạn sáu bộ sử này, một loạt công trình “sửa đổi tận gốc” đã được hoàn thành. Ví dụ như việc mở rộng lựa chọn tư liệu lịch sử sang các loại sách sử rộng lớn hơn, bao gồm cả tu luyện Phật – Đạo, các Thần tích đặc dị… nhằm thể hiện được nét đặc sắc riêng biệt của triều đại đó. Thái Tông cũng là người mở ra tiền lệ lập Sử quán để soạn tiền đại sử (sử đời trước), Khởi cư lục (Thực lục), Quốc sử đương triều và chế độ Tể tướng giám sát việc tu sửa, ảnh hưởng đến hậu thế suốt ngàn năm.
Tư Mã Bưu thời nhà Tấn biên soạn “Tục Hán thư”, ghi chép đoạn lịch sử Hán Quang Vũ Đế Lưu Tú dựng nên triều Đông Hán. Đường Thái Tông đã làm bài thơ “Vịnh Tư Mã Bưu Tục Hán chí”:
Dịch Hán Việt:
Nhị nghi sơ sáng tượng, tam tài nãi phân vị.
Phi duy thụ tư mục, cố diệc thùy văn tự.
Miên đại cánh ưng kỳ, phương đồ vô xuyết ký.
Viêm Hán thừa quân đạo, anh mô toản thần khí.
Tiềm long ký khả dược, khuê thố hề nan trí.
Tiền sử đan diệu từ, hậu côn trầm nhã tư.
Thư ngôn dương thịnh tích, bổ khuyết hưng hồng chí.
Xuyên cốc do cựu đồ, quận quốc khai tân ý.
Mai sơn vị giác hủ, cốc thủy thùy vân dị.
Xa phục tùy danh biểu, văn vật nhân thời trí.
Phượng kích dực khang cù, loan dư tổng nhu bội.
Thanh trọc tất năng trừng, hồng tiêm hạnh vô khí.
Quan nghi bất thất tự, tuân lễ phương do sự.
Chính tuyên trúc luật hòa, thời bình ngọc điều bị.
Văn hữu điêu kỳ thái, nghệ môn uẩn thâm trí.
Vân phi tinh cộng lưu, phong dương nguyệt kiêm chí.
Loại nhân tuân lệnh điển, đàn vĩ tư lương địa.
Ngũ thắng cánh vô vi, bách ty thành hữu tý.
Việt dư thừa hạ cảnh, đàm tùng dẫn tuyền bí.
Thảo luận cùng nghĩa phủ, khán hạch phi kinh tứ.
Đại biện lương nan ngưỡng, tiểu học chung tiên khuyết.
Văn đạo lượng tri vinh, hàm hào thục vong quý.
Đại ý là:
Vô cực sinh Thái cực, Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Thiên – Địa – Nhân định ra vị thế, Thần sáng tạo nên Thần Châu. Chúng sinh từ các Thiên quốc hạ thế, làm chủ Trung Nguyên, các triều đại nối tiếp nhau miên man bất tận. Thứ văn tự Thần truyền độc nhất vô nhị của Hoa Hạ đã liên tục ghi chép việc: cứ mỗi triều Thiên tử là một triều dân, một triều trang phục, một triều văn vật, một triều luật lệnh, một triều lễ nghi, một triều luật âm nhạc (luật lữ), một triều văn chương, một triều thiên văn, một triều quy chế, một triều Ngũ hành, và một triều bách quan khác nhau, để tương ứng với vạn vật trong vũ trụ và Trời đất.
Quyển 63 sách “Đường Hội Yếu” chép rằng: “Trinh Quán thập niên chính nguyệt nhị thập nhật, thượng thư tả phó xạ Phòng Huyền Linh, thị trung Ngụy Trưng, tán kỵ thường thị Diêu Tư Liêm, Thái tử hữu thứ tử Lý Bách Dược, Khổng Dĩnh Đạt, Lễ bộ thị lang Lệnh Hồ Đức Phân, trung thư thị lang Sầm Văn Bản, trung thư xá nhân Hứa Kính Tông đẳng, soạn thành Chu, Tùy, Lương, Trần, Tề ngũ đại sử. Thượng chi. Tiến giai ban tứ hữu soa.”
Tạm dịch:
Ngày 20 tháng giêng năm Trinh Quán thứ mười, các quan gồm Thượng thư Tả bộc xạ Phòng Huyền Linh, Thị trung Ngụy Trưng, Tán kỵ Thường thị Diêu Tư Liêm, Thái tử Hữu thứ tử Lý Bách Dược, Khổng Dĩnh Đạt, Lễ bộ Thị lang Lệnh Hồ Đức Phân, Trung thư Thị lang Sầm Văn Bản, Trung thư Xá nhân Hứa Kính Tông… đã biên soạn xong bộ sử của năm triều đại gồm: Chu, Tùy, Lương, Trần, Tề. Sau khi dâng lên vua, các quan được thăng cấp và ban thưởng khác nhau tùy theo công trạng.
Chân dung Diêu Tư Liêm (tên khác: Diêu Giản), trích từ “Tam tài đồ hội”. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
Diêu Tư Liêm viết sách “Lương thư”. (Ảnh: Miền công cộng)
Trong “Tùy Thư – Kinh Tịch Chí”, 6.520 bộ sách với 56.881 quyển đã được phân thành sáu loại: Kinh, Sử, Tử, Tập, Đạo, Phật. Đây chính là phương pháp phân loại sách vở chính thức đầu tiên của quốc gia, chứ không phải chỉ có bốn loại “Kinh, Sử, Tử, Tập” như người nay lầm tưởng. Cách phân loại thời Đường đã có sức ảnh hưởng đến tận ngày nay.
Trong đó, loại “Sử” bao gồm 13 danh mục: Chính sử, Cổ sử, Tạp sử, Bá sử, Khởi cư chú, Cựu sự, Chức quan, Nghi chú, Hình pháp, Tạp truyện, Địa lý, Phổ hệ và Mục lục; tất cả đều là ghi chép lịch sử. Phương pháp phân ra sáu loại thời Đường sau này đã bị hậu thế lược bỏ hai loại “Đạo” và “Phật”, chỉ để bốn loại còn lại; quỹ đạo suy thoái của các đời sau thể hiện rất rõ qua việc này.
“Tùy Thư – Kinh Tịch Chí”. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
Chính sử là loại sử thư lấy “Bản kỷ” về các đế vương làm bộ phận chủ yếu, viết theo thể kỷ truyện, ví dụ như Sử Ký, Hán Thư… Trong đó, Sử Ký là quan điểm riêng của cá nhân Tư Mã Thiên, chứ không phải do triều đình biên soạn.
Cổ sử, nay gọi là thể biên niên, như Xuân Thu Tả Truyện, viết sách theo thứ tự năm tháng.
Tạp sử, như Chiến Quốc Sách, Ngô Việt Xuân Thu, do các bậc học giả uyên bác ghi chép lại những điều tai nghe mắt thấy rồi tùy ý viết ra.
Bá sử, nay gọi là biệt sử, là loại sử ghi chép về các quốc gia trong thời kỳ thiên hạ phân tranh, cát cứ.
Khởi cư chú, còn gọi là Thực lục, ghi chép lại lời nói, hành động và cử chỉ của các bậc quân chủ.
Cựu sự, nay gọi là tải ký, như Hán Vũ Đế cố sự, Tấn Kiến Vũ cố sự…
Tạp truyện, nay gọi là truyện ký, như Liệt Tiên Truyện Tán của Lưu Hướng, Thần Tiên Truyện của Cát Hồng, Cao Ẩn Truyện của Nguyễn Hiếu Tự, Cao Tăng Truyện của Huệ Kiểu, Phương Sóc Truyện của Ban Cố, Thuật Dị Ký của Nhậm Phưởng, Sưu Thần Ký của Can Bảo, Sưu Thần Hậu Ký của Đào Tiềm… Những sách này ghi chép về những người đặc dị hoặc các bậc phương ngoại cao nhân. Sử quan thời xưa ắt phải ghi chép rộng rãi, chứ không chỉ riêng việc của các bậc đế vương, tướng soái.
Sách “Thuyết văn giải tự” của Hứa Thận có nói: “Sử, là người chép việc; chữ này gồm bộ Hựu (bàn tay) nắm giữ chữ Trung, mà Trung nghĩa là chính trực”. Thực ra, bất kể là thể loại nào, nhân vật nào hay thời đại nào, hễ có thể được lựa chọn trong số hàng trăm triệu chúng sinh của một triều đại để lưu danh sử sách, thì đã là một sự vinh quang vô cùng to lớn.
Quyển 63 sách “Đường Hội Yếu” chép: “Nhị thập niên nhuận tam nguyệt tứ nhật chiếu. Lệnh tu sử sở canh soạn tấn thư… Vu thị ti không Phòng Huyền Linh, trung thư lệnh Chử Toại Lương, Thái tử tả thứ tử Hứa Kính Tông, chưởng kỳ sự, hựu trung thư xá nhân Lai Tể, trứ tác lang Lục Nguyên Sĩ, trứ tác lang Lưu Tử Dực, chủ khách lang trung Lô Thừa Cơ, thái sử lệnh Lý Thuần Phong, thái tử xá nhân Lý Nghĩa Phủ, Tiết Nguyên Siêu, khởi cư lang Thượng Quan Nghi, chủ khách viên ngoại lang Thôi Hành Công, hình bộ viên ngoại lang Tân Khâu Ngự, trứ tác lang Lưu Duẫn Chi, quang lộc tự chủ bộ Dương Nhân Khanh, ngự sử thai chủ bộ Lý Diên Thọ, giáo thư lang Trương Văn Cung tịnh phân công soạn lục. Hựu lệnh tiền nhã châu thứ sử lệnh Hồ Đức Phân, thái tử ti nghi lang Kính Bá, chủ khách viên ngoại lang Lý An Kỳ, truân điền viên ngoại lang Lý Hoài Nghiễm tường kỳ điều lệ, lượng gia khảo chính, dĩ Tang Vinh Tự Tấn thư vi bản, quấn trích (thải tập) chư gia cập Tấn đại văn tập, vi thập kỷ, thập chí, thất thập liệt truyện, tam thập tái kỷ. Kỳ Thái Tông sở trứ Tuyên Vũ nhị đế, cập lục ky Vương Hi Chi tứ luận, xưng Chế Chỉ yên. Phòng Huyền Linh dĩ hạ, xưng Sử thần, phàm khởi lệ giai bá độc sang yên. Dĩ kỳ thư tứ Hoàng thái tử, cập Tân La sử giả các nhất bộ.”
Tạm dịch:
Ngày mồng 04 tháng 03 nhuận năm [Trinh Quán] thứ 20, có chiếu lệnh cho Viện tu sử soạn lại bộ Tấn Thư… Theo đó, Ty không Phòng Huyền Linh, Trung thư lệnh Chử Toại Lương, Thái tử Tả thứ tử Hứa Kính Tông quản lý việc này; các quan gồm Trung thư Xá nhân Lai Tế, Chức tác lang Lục Nguyên Sĩ, Chức tác lang Lưu Tử Dực, Chủ khách Lang trung Lô Thừa Cơ, Thái sử lệnh Lý Thuần Phong, Thái tử Xá nhân Lý Nghĩa Phủ, Tiết Nguyên Siêu, Khởi cư lang Thượng Quan Nghi, Chủ khách Viên ngoại lang Thôi Hành Công, Hình bộ Viên ngoại lang Tân Khâu Ngự, Chức tác lang Lưu Uẩn Chi, Quang lộc tự Chủ bạ Dương Nhân Khanh, Ngự sử đài Chủ bạ Lý Diên Thọ, Hiệu thư lang Trương Văn Cung phân công nhau biên soạn và ghi chép. Lại lệnh cho nguyên Thứ sử Nhã Châu là Lệnh Hồ Đức Phân, Thái tử Ty nghi lang Kính Bá, Chủ khách Viên ngoại lang Lý An Kỳ, Truân điền Viên ngoại lang Lý Hoài Nghiễm thuyết minh kỹ các điều lệ, cân nhắc khảo đính chính xác. Việc biên soạn lấy bộ Tấn Thư của Tang Vinh Thức làm bản gốc, thu thập thêm trước tác của các nhà và văn tập thời nhà Tấn, để làm nên 10 quyển Kỷ, 10 quyển Chí, 70 quyển Liệt truyện và 30 quyển Tải ký. Trong đó, phần truyện về hai Hoàng đế Tuyên Đế (Tư Mã Ý) và Vũ Đế (Tư Mã Viêm), cùng bốn bài luận về Lục Cơ, Vương Hy Chi là do Thái Tông đích thân viết, gọi là ‘Chế chỉ’ (ý chỉ của vua). Từ Phòng Huyền Linh trở xuống đều gọi là ‘Sử thần’, phàm là các quy tắc đều do Bá sáng tạo mới. Sau đó đem sách ấy ban cho Hoàng thái tử và sứ giả nước Tân La mỗi bên một bộ.
Thái Tông đã tập kết các trọng thần đương triều, các bậc Đại Đạo và nhà nho sáng giá để soạn sử, lại tự tay viết bốn bài luận, đủ thấy mức độ coi trọng của ông.
30 quyển “Tải ký” ghi chép về chính quyền của 16 quốc gia do người Hung Nô, Tiên Ti, Yết, Đê, Khương thiết lập, đây là một đặc điểm trong phong cách thể kỷ truyện của bộ “Tấn Thư”. Sách cũng trích dẫn một lượng lớn các câu chuyện Thần dị và truyền kỳ về tu luyện Đạo gia từ các bộ tạp truyện như “Sưu Thần Ký”.
“Tu Tấn Thư Chiếu” viết:
“Trẫm chửng nịch sư toàn, tỉnh phương lễ tất, tứ hải vô sự, bách quỹ đa nhàn. Toại nhân hạ nhật, tường quan điển phủ, khảo quy văn vu hi tái, biện điểu sách vu hiên niên. Bất xuất nham lang, thần giao thiên tự chi ngoại; mục nhiên lưu khoáng, lâm nghễ cửu hoàng chi biểu. Thị tri hữu sử tự ngôn, diêu tư bất muội; tả quan thuyên sự, lịch tư vị viễn. Phát huy văn tự chi bản, đạo đạt thư khế chi nguyên, đại hĩ tai, cái sử tịch chi vi dụng dã.”
“Tự tự tụng nhiếp quan chi hậu, bá dương tái bút chi tiền, dịch đại sử thần, giai hữu san trứ. Trọng ni tu nhi thải ‘đào ngột’, ỷ tương tụng nhi xiển ‘khâu’, ‘phần’. Hàng tự tây kinh, ban, mã đằng kỳ mậu thực; đãi vu đông hán, phạm, tạ chấn kỳ phương thanh. Tối nhĩ đương đồ, trần thọ phu kỳ quốc chí; miễu tai hữu tống, trầm ước tài kỳ đế tịch. Chí nhược lương, trần, cao thị, trẫm mệnh lặc thành, duy chu cập tùy, diệc đồng chân lục. Mạc bất chương thiện đản ác, chấn nhất đại chi thanh phân; bao đức trừng hung, bị bách vương chi lệnh điển.”
“Duy Tấn thị ưng vận, chế hữu Trung Nguyên, thượng đế khải nguyên thạch chi đồ, hạ vũ đại hoàng tinh chi đức. Cập trung triêu đỉnh tạ, giang hữu tự hưng, tịnh trạch hoàn khu, luy trọng huy hào, túc dĩ phi anh lệ bút, tương mỹ phương thư. Đãn thập hữu bát gia, tuy tồn ký chú, nhi tài phi lương sử, thư khuy thực lục. Vinh tự phiền nhi quả yếu, hành tư lao nhi thiểu công. Thúc ninh khóa hư, tư vị đồng vu họa bính; tử vân học hải, quyên tích nhân vu hạc lưu. Xử thúc bất dự vu trung hưng, pháp thịnh mạc thông vu sang nghiệp. Kịp hồ kiền, lục, tào, đặng, lược kỷ đế vương; loan, thịnh, nghiễm, tùng, tài biên tái ký. Kỳ văn ký dã, kỳ sự hãn truyện. Toại sử điển ngọ thanh trần, uẩn di phương vu giản sách; kim hành nẵng chí, khuyết kế mỹ vu ly nguyên. Hà tưởng tịch liêu, thâm vi thán tức. Nghi lệnh tu quốc sử sở canh soạn ‘Tấn thư’, thuyên thứ cựu văn, tài thành nghĩa loại, tỷ phu yên lạc chi cáo, hàm sử phát minh. Kỳ sở tu, khả y tu ngũ đại sử cố sự. Nhược thiểu học sĩ, diệc lượng sự truy thủ.”
Đại ý là:
Trẫm từ sau khi viễn chinh Cao Câu Ly khải hoàn trở về, tuần du bốn phương, lễ nghi đã hoàn thành, thiên hạ thái bình. Khó lắm mới có lúc thong thả, Trẫm đọc kỹ các văn điển, từ Bát quái do Phục Hy vạch ra thuở trước, đến các thẻ tre viết bằng chữ điểu chuyên thời Hoàng Đế; chẳng cần rời khỏi thư quán mà như đi vào cõi Thiên niên, xem hết dấu tích của các đế vương thượng cổ. Hữu sử chép lời, Tả sử chép việc, văn chương dùng để tải Đạo, truyền thừa lịch sử; tác dụng của sử sách là kinh thiên động địa, không lời nào tả xiết.
Thời Hoàng Đế có Thư Tụng làm Hữu sử tạo ra thư khế ghi chép sự việc, thời nhà Chu có Bá Dương làm Thái sử ghi chép sự đổi dời, triều triều đại đại, sử sách không bao giờ dứt. Trích dẫn phong phú từ các nguồn: Khổng Tử nước Lỗ lấy sử nước Sở mà soạn kinh Xuân Thu; Sử quan Ỷ Tương đời Sở Linh Vương thông hiểu các cổ tịch như Tam Phần, Ngũ Điển, Bát Sóc, Cửu Khâu. Tây Hán có Tư Mã Thiên viết Sử Ký mở đầu cho thể Thông sử; Ban Cố soạn Hán Thư khởi xướng cho thể Đoạn đại sử theo sau. Đến thời Đông Hán có Phạm Diệp và Tạ Trầm soạn Hậu Hán Thư, Tư Mã Bưu soạn Tục Hán Thư; thời Tam Quốc phân tranh có Tam Quốc Chí của Trần Thọ ghi lại; thời nhà Tống ở Nam triều có Tống Thư của Thẩm Ước còn lưu.
Riêng Trẫm đã ra lệnh soạn xong các bộ Lương Thư, Trần Thư, Bắc Tề Thư, Chu Thư, Tùy Thư để ứng với các triều đại Nam Bắc triều và nhà Tùy. Các bộ sử ấy không bộ nào là không lấy việc thiết lập chính khí, giương cao cái thiện ức chế cái ác, tôn sùng đạo đức làm nhiệm vụ của mình, ghi chép lại sự tích và điển chương của các triều đại. Nhà Tấn ứng với đức Kim mà sinh ra, thay thế Tào Ngụy mà hưng thịnh, đổi lịch pháp, thay màu sắc trang phục, tạo nên trời mới đất mới; sau này dời đô sang phương Nam (Giang Hữu – Kiến Khang, nay là Nam Kinh) phục hưng tạo nên Tây Tấn và Đông Tấn, vở kịch lớn hai thời nhà Tấn thật là tiếng thơm oanh liệt. Tuy có 18 nhà ghi chép lịch sử nhà Tấn, nhưng không có lấy một cuốn nào thể hiện được toàn diện và chính xác đặc sắc của triều đại này, vì vậy Trẫm đặc biệt lệnh cho Sử quán tu soạn lại mới bộ Tấn Thư để hoàn thiện bộ sử ấy.
“Tấn Thư – Đế Kỷ”. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
(Còn tiếp)
Dịch từ:



