Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật Thiên cổ anh hùng của văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm
[ChanhKien.org]
Con mắt tinh đời
Trong quá trình biên soạn bộ “Tấn Thư”, Đường Thái Tông với vị thế cửu ngũ chí tôn đã tự mình hạ bút viết nên 4 bài sử luận bao gồm: “Tấn Tuyên Đế luận”, “Tấn Vũ Đế luận”, “Lục Cơ luận” và “Vương Hy Chi luận”.
Các bài sử luận trước đó, hoặc sơ lược đại khái, hoặc phiến diện cực đoan, hoặc chỉ giới hạn ở việc ca công tụng đức, hoặc bị gò bó trong định kiến thiện ác của cá nhân; khó lòng thể hiện toàn diện đặc tính của những nhân vật, sự vật vốn được ban cho những vai diễn trên sân khấu vở kịch lớn của lịch sử.
Sử luận của Thái Tông được viết bằng Thần bút siêu phàm thoát tục, chỉ vài nét phác họa mà cái đặc sắc của sinh mệnh nhân vật đã hiện lên sống động; các tình tiết đan xen chặt chẽ, tầng tầng lớp lớp ý nghĩa của vai diễn hiển hiện rõ mồn một trên mặt giấy; văn phong tựa nước sông Hoàng Hà, cuồn cuộn chảy tràn ngàn dặm. Ông đã mở ra luồng gió mới cho sử luận, dựng nên khuôn mẫu cho hậu thế, độc bộ trong thiên hạ.
Tư Mã Viêm là con trưởng của Tư Mã Chiêu. Năm 265, Tư Mã Chiêu lâm bệnh qua đời, Tư Mã Viêm kế vị Tướng quốc, Tấn vương. Năm 266, nhận sự nhường ngôi từ Ngụy Đế Tào Hoán, Tư Mã Viêm đăng cơ, đổi quốc hiệu là “Tấn”, tức Tấn Vũ Đế. Năm 280, nhà Tấn diệt Ngô, Tôn Hạo đầu hàng, thiên hạ thống nhất về một mối. Tư Mã Viêm tạo nên thời kỳ “Thái Khang chi trị”, nhưng về sau trễ nải chính sự, gieo mầm mống cho sự suy bại của triều Tấn.
Chân dung Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm, trích trong “Lịch đại Đế vương đồ” do Diêm Lập Bản thời Đường vẽ, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Boston, Hoa Kỳ. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)”
“Tấn Vũ Đế Luận”
“Vũ Hoàng thừa cơ, đản ưng thiên mệnh, ác đồ ngự vũ, phu hóa đạo dân, dĩ dật đại lao. Dĩ trì dịch loạn. Tuyệt kiêm luân chi cống, khứ điêu trác chi sức, chế xa tục dĩ biến kiệm ước, chỉ kiêu phong nhi phản thuần phác. Nhã hảo trực ngôn, lưu tâm thải trạc, lưu nghị, bùi giai dĩ chất trực kiến dung, kê thiệu, hứa kì tuy cừu thù bất khí. Nhân dĩ ngự vật, khoan nhi đắc chúng, hoành lược đại độ, hữu đế vương chi lượng yên. Vu thị dân hòa tục tĩnh, gia cấp nhân túc, duật tu vũ dụng, tư khải phong cương. Quyết thần toán vu thâm trung, đoạn hùng đồ vu nghị biểu. Mã Long tây phạt, Vương Tuấn nam chinh, sư bất duyên thì, huân lỗ tước tích, binh vô huyết nhận, dương việt vi khư. Thông thượng đại chi bất thông, phục tiền vương chi vị phục. Trinh tường hiển ứng, phong giáo túc thanh, thiên nhân chi công thành hĩ, bá vương chi nghiệp đại hĩ. Tuy đăng phong chi lễ, nhượng nhi bất vi, kiêu thái chi tâm, nhân tư nhi khởi. Kiến thổ đích chi nghiễm, vị vạn khí nhi vô ngu; đổ thiên hạ chi an, vị thiên niên nhi vĩnh trì. Bất tri xử nghiễm dĩ tư hiệp, tắc nghiễm khả trường nghiễm; cư trì nhi vong nguy, tắc trì vô thường trì. Gia chi kiến lập thất sở, ủy kí thất tài, chí dục tựu thăng bình, hành tiên nghênh vu họa loạn. Thị do tương thích việt giả chỉ sa mạc dĩ tuân đồ, dục đăng sơn giả thiệp chu hàng nhi mịch lộ, sở thú du viễn, sở thượng chuyển nan, nam bắc bội thù, cao hạ tương phản, cầu kì chí dã, bất diệc nan hồ! Huống dĩ tân tập dịch động chi cơ, nhi cửu an nan bạt chi lự, cố Giả Sung hung thụ, hoài gian chí dĩ ủng quyền; Dương Tuấn sài lang, bao họa tâm dĩ chuyên phụ. Cập hồ cung xa vãn xuất, lượng ám vị chu, phiên hàn biến thân dĩ thành sơ, liên binh cạnh diệt kì bổn; đống lương hồi trung nhi khởi ngụy, ủng chúng các cử kì uy. Tằng vị sổ niên, cương kỉ đại loạn, hải nội bản đãng, tông miếu bá thiên. Đế đạo vương du, phản cư văn thân chi tục; thần châu xích huyền, phiên thành bị phát chi hương. Khí sở đại dĩ tư nhân, yểm kì tiểu nhi tự thác, vi thiên hạ tiếu, kì cố hà tai? Lương do thất thận vu tiền, sở dĩ di hoạn vu hậu. Thả tri tử giả hiền phụ, tri thần giả minh quân; tử bất tiếu tắc gia vong, thần bất trung tắc quốc loạn; quốc loạn bất khả dĩ an dã, gia vong bất khả dĩ toàn dã. Thị dĩ quân tử phòng kì thủy, thánh nhân nhàn kì đoan. Nhi thế tổ hoặc tuân úc chi gian mưu, mê vương hồn chi ngụy sách, tâm lũ di vu chúng khẩu, sự bất định vu kỷ đồ. Nguyên hải đương trừ nhi bất trừ, tốt lệnh nhiễu loạn khu hạ; huệ đế khả phế nhi bất phế, chung sử khuynh phúc hồng cơ. Phu toàn nhất nhân giả đức chi khinh, chửng thiên hạ giả công chi trọng, khí nhất tử giả nhẫn chi tiểu, an xã tắc giả hiếu chi đại; huống hồ tư tam thế nhi thành nghiệp, duyên nhị nghiệt dĩ tang chi, sở vị thủ khinh đức nhi xá trọng công, úy tiểu nhẫn nhi vong đại hiếu. Thánh hiền chi đạo, khởi nhược tư hồ! Tuy tắc thiện thủy vu sơ, nhi quai lệnh chung vu mạt, sở dĩ ân cần sử sách, bất năng vô khảng khái yên.”
Đại ý là: Tấn Vũ Đế thuận theo thiên mệnh mà kế thừa cơ nghiệp, giáo hóa vạn dân, bỏ xa hoa mà quay về thuần phác. Ông sẵn lòng nghe lời ngay thẳng, đến cả kẻ thù cũng không ghét bỏ. Lấy nhân từ để trị muôn vật, lấy khoan hồng để đắc lòng người; mưu lược và độ lượng của ông đúng thực là khí độ của bậc đế vương. Mã Long dẹp phía Tây, Vương Tuấn đánh phía Nam, chinh phục được những nơi mà đời trước chưa làm được, lập nên nghiệp bá vương lẫy lừng.
Thế nhưng, lòng kiêu căng phóng túng cũng từ đó mà nảy sinh, khiến ông quên mất việc lo xa khi đang hưởng thái bình. Việc phân phong vương hầu không thỏa đáng, ủy thác quyền hành sai người, muốn trị bình mà lại gây ra loạn lạc. Kẻ gian thần Giả Sung mang lòng xảo quyệt mà nắm giữ quyền lực, loài sói dữ Dương Tuấn ôm tâm hại người mà giữ việc phụ chính. Tấn Vũ Đế băng hà chưa được mấy năm, trước có “Loạn Bát Vương”, sau có các ngoại tộc phương Bắc xâm lược Trung Nguyên, khiến Tây Tấn diệt vong. Tộc hệ còn sót lại của nhà Tấn phải di cư xuống phía Nam, lập nên triều Đông Tấn.
Tranh vẽ Tấn Vũ Đế dùng xe dê dạo chơi trong hậu cung. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
Biết rõ con cái mới là người cha hiền, hiểu thấu thần tử mới là bậc minh quân. Con cái không ra gì thì nhà tan, thần tử không trung thành thì nước loạn. Thế nên bậc quân tử phải phòng họa từ khi chưa thành hình. Tấn Vũ Đế bị mưu gian làm mê hoặc, tâm bị lời lẽ của kẻ khác xoay chuyển, việc lớn không tự mình định đoạt. Đáng ra phải phế bỏ Huệ Đế mà không phế, khiến cho hắn làm sụp đổ nền móng cả triều đại. Công nghiệp ba đời gây dựng lại bị chôn vùi bởi hai đứa con nghiệt chủng, thật là vì cái nhỏ mà mất cái lớn. Tấn Vũ Đế lúc đầu tốt đẹp bao nhiêu thì cuối đời lại không giữ được tiết tháo bấy nhiêu, không khỏi khiến người ta phải cảm thán.
“Lục Cơ luận”:
“Cổ nhân vân: ‘tuy Sở hữu tài, Tấn thật dụng chi’, quan phu Lục Cơ, Lục Vân, thật kinh, hành chi kỷ tử, đĩnh khuê chương vu tú thật, trì anh hoa vu tảo niên, phong giám trừng sảng, thần tình tuấn mại. Văn tảo hoành lệ, độc bộ đương thì; ngôn luận khảng khái, quan hồ chung cổ. Cao từ huýnh ánh, như lãng nguyệt chi huyền quang; điệp ý hồi thư, nhược trọng nham chi tích tú. Thiên điều tích lí, tắc điện sách sương khai; nhất tự liên văn, tắc châu lưu bích hợp. Kì từ thâm nhi nhã, kì nghĩa bác nhi hiển, cố túc viễn siêu Mai, Mã, cao niếp Vương, Lưu, bách đại văn tông, nhất nhân nhi dĩ.
“Nhiên kì tổ khảo trọng quang, vũ tiếp ngô vận, văn vũ dịch diệp, tương tương liên hoa. Nhi ky dĩ lang miếu uẩn tài, hô liễn tiêu khí, nghi kì thừa tuấn nghệ chi khánh, phụng tá thì chi nghiệp, thân năng triển dụng, bảo dự lưu công. Chúc ngô tộ khuynh cơ, kim lăng tất khí, quân di quốc diệt, gia tang thần thiên. Kiểu cách nam từ, phiên tê hỏa thụ; phi lân bắc thệ, tốt ủy thang trì. Toại sử huyệt toái song long, sào khuynh lưỡng phượng. Kích lãng chi tâm vị sính, cự cốt tu lân; lăng vân chi ý tương đằng, tiên hôi kính cách. Vọng kì tường dược, yên khả đắc tai! Phu hiền chi lập thân, dĩ công danh vi bổn; sĩ chi cư thế, dĩ phú quý vi tiên. Nhiên tắc vinh lợi nhân chi sở tham, họa nhục nhân chi sở ác, cố cư an bảo danh, tắc quân tử xử yên; mạo nguy lí quý, tắc triết sĩ khứ yên. Thị tri lan thực trung đồ, tất vô kinh thì chi thúy; quế sinh u hác, chung bảo di niên chi đan. Phi lan oán nhi quế thân, khởi đồ hại nhi hác lợi? Nhi sinh diệt hữu thù giả, ẩn hiển chi thế dị dã. “Cố viết, huyễn mĩ phi sở, hãn hữu thường an; thao kì trạch cư, cố năng toàn tính. Quan ky, vân chi hành kỷ dã, trí bất đãi ngôn hĩ. Đổ kì văn chương chi giới, hà tri dịch nhi hành nan? Tự dĩ trí túc an thì, tài kham tá mệnh, thứ bảo danh vị, vô thiểm tiền cơ. Bất tri thế chúc vị thông, vận chung phương phủ, tiến bất năng tích hôn khuông loạn, thối bất năng bình tích toàn thân, nhi phấn lực nguy bang, kiệt tâm dong chủ, trung bão thật nhi bất lượng, báng duyến hư nhi kiến nghi, sinh tại kỷ nhi nan trường, tử nhân nhân nhi dịch xúc. Thượng thái chi khuyển, bất giới vu tiền, hoa đình chi hạc, phương hối vu hậu. Tốt lệnh phúc tông tuyệt tự, lương khả bi phu! Nhiên tắc tam thế vi tương, hấn chung lai diệp; tru hàng bất tường, ương cập hậu côn. Thị tri tây lăng kết kì hung đoan, hà kiều thu kì họa mạt, kì thiên ý dã, khởi nhân sự hồ!”
Tạm dịch:
Cổ nhân có câu: “Dẫu nước Sở có tài, nhưng nước Tấn mới biết dùng”. Xét về Lục Cơ, Lục Vân, thực là những bậc kỳ tài (cây kỷ, cây tử) của vùng Kinh, Hành, như ngọc khuê ngọc chương phát tiết tinh hoa, lừng lẫy từ thuở trẻ. Phong thái sáng suốt thanh tao, thần tình khôi ngô tuấn tú. Văn chương rộng lớn diễm lệ, độc bộ đương thời; nghị luận hào sảng khảng khái, đứng đầu muôn thuở. Lời văn cao vút rạng ngời như vầng trăng sáng treo cao; ý tứ dạt dào thư thái như vẻ đẹp tích tụ của lớp lớp núi non. Khi phân tích ngàn vạn đạo lý thì như sấm sét xẻ toang, như sương giá tan rã; lúc nối kết văn chương thì như châu chảy bích hợp (hoàn hảo không tỳ vết). Lời văn sâu sắc mà nhã nhặn, nghĩa lý rộng lớn mà hiển hiện, đủ sức vượt xa Mai Thừa, Tư Mã Tương Như, đứng trên cả Vương Xán, Lưu Trinh. Là tông chủ của văn chương trăm đời, chỉ có một mình ông mà thôi.
Vốn tổ tiên ông đã có đức sáng chiếu soi, làm mái chèo cánh lông phò trợ vận nước Ngô; các đời đều giỏi văn trị võ công, nối tiếp nhau giữ chức tướng soái. Bản thân Lục Cơ mang tài năng của bậc rường cột miếu đường, tư chất như món khí vật quý giá (hồ liễn), lẽ ra nên kế thừa phúc trạch của tiền nhân, dốc sức phò tá thời đại, thi triển tài năng, giữ gìn danh tiếng và lưu truyền công trạng. Gặp lúc vận Ngô sụp đổ, khí thiêng Kim Lăng đã tận, vua mất nước tan, nhà tan tôi tản. Ông như chim bằng vỗ cánh rời bỏ phương Nam, lại bay đến đậu nơi cây lửa; như cá lớn bơi về phương Bắc, cuối cùng lại sa vào ao nước nóng. Khiến cho hang nát đôi rồng, tổ nghiêng hai phượng. Lòng khao khát cưỡi sóng lớn chưa kịp thi triển đã vội nát xương hư vảy; ý chí lăng vân định bay cao đã sớm cháy khô đôi cánh cứng. Muốn thấy ông bay nhảy lần nữa, sao có thể được đây! Bậc hiền tài lập thân lấy công danh làm gốc; kẻ sĩ ở đời lấy phú quý làm đầu. Thế nhưng vinh hoa lợi lộc là thứ người ta tham cầu, tai họa nhục nhã là điều người ta căm ghét. Cho nên, ở nơi yên ổn mà giữ được danh tiếng thì quân tử mới ở lại; liều mình vào chỗ nguy hiểm để đạp lên phú quý thì bậc triết sĩ sẽ rời đi. Cũng như cỏ lan trồng giữa đường thì chắc chắn không giữ được màu xanh quá mùa; cây quế mọc nơi khe núi sâu thì lại bảo tồn được sắc đỏ quanh năm. Chẳng phải cỏ lan bị oán ghét còn cây quế được yêu thương, cũng không phải do con đường gây hại hay khe núi mang lợi; sở dĩ sinh diệt khác nhau là do cái thế “ẩn” và “hiển” khác nhau vậy.
Thế nên mới nói: Khoe khoang cái đẹp không đúng chỗ thì hiếm khi được yên thân lâu dài; ẩn giấu tài lạ và chọn nơi cư ngụ khôn ngoan mới có thể bảo toàn được thiên tính. Xem cách hành xử của Cơ và Vân, mới thấy cái trí chẳng theo kịp cái lời. Đã đọc những lời răn dạy trong văn chương của họ, sao lại thấu hiểu thì dễ mà thực hành thì khó đến vậy? Họ tự cho rằng trí tuệ đủ để yên thân với thời cuộc, tài năng đủ để phò tá mệnh trời, mong giữ được danh vị, không làm nhục đến nền móng của tiền nhân. Mà chẳng biết rằng đời đang lúc chưa thông, vận đang hồi bế tắc; tiến không thể dẹp tối trừ loạn, lùi không thể ẩn tích toàn thân, lại đem sức lực dốc vào đất nguy, đem lòng thành dâng cho chúa tầm thường. Lòng trung ôm giữ sự thực mà không được lượng thứ, lời báng bổ dựa vào chuyện hư không mà lại bị nghi ngờ. Cái sống do mình nắm giữ mà khó kéo dài, cái chết do người định đoạt lại đến quá chóng. Con chó ở Thượng Sái chẳng làm gương được ở phía trước, tiếng chim hạc ở Hoa Đình mới phải hối hận về sau. Cuối cùng khiến cho cả tông tộc bị diệt, việc thờ tự bị tuyệt dứt, thật đáng bi thương thay! Vả lại, ba đời làm tướng, tai ương đọng lại ở đời sau; sát hại kẻ đầu hàng là điềm chẳng lành, tai vạ lây đến con cháu. Thế mới biết, đất Tây Lăng đã kết lấy mầm hung bạo, cầu Hà Kiều là nơi nhận lấy họa cuối cùng, đó là ý trời vậy, há phải do sức người hay sao!
Lục Cơ, nhà văn học thời Tây Tấn, xuất thân từ danh gia vọng tộc vùng Giang Đông. Ông nội là Lục Tốn – danh tướng thời Tam Quốc, cha là Lục Kháng – từng giữ chức Đại Tư mã nước Đông Ngô. Lục Cơ và em trai là Lục Vân được người đời gọi chung là “Nhị Lục”.
Sau khi nước Ngô diệt vong, hai anh em đi lên phương Bắc, được học giả Trương Hoa (đang giữ chức Thái thường) hết sức coi trọng. Lục Cơ từng được Thành Đô vương Tư Mã Dĩnh bổ nhiệm làm Bình Nguyên nội sử. Trong loạn Bát Vương, Lục Cơ được cử làm Hậu tướng quân, Hà Bắc đại đô đốc, thống lĩnh 20 vạn binh mã thảo phạt Trường Sa Vương Tư Mã Nghệ. Lục Cơ bại trận, bị Tư Mã Dĩnh ra lệnh xử tử. Trước lúc lâm chung, ông than rằng: “Tiếng hạc kêu ở Hoa Đình, há có thể nghe lại được chăng?” (tiếng chim hạc kêu nơi quê nhà, liệu còn cơ hội nào được nghe lại một lần không?)
Tranh khắc đá Lục Cơ tại Tô Châu, do Khổng Kế Nghiêu thời Thanh vẽ, Thạch Uẩn Ngọc viết bài tán bằng chữ Chính thư, Đàm Tùng Pha khắc; là một trong “Thương Lãng Đình ngũ bách danh hiền tượng” (Hình chạm 500 bậc danh hiền tại đình Thương Lãng). (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
Lục Cơ viết tác phẩm “Văn Phú”, khái quát lại quá trình sáng tác, hình thức và nội hàm của văn chương. Ông mô tả quá trình hành văn khởi đầu bằng việc thu hồi tinh lực từ thế giới bên ngoài vào nội tâm, thanh lọc tâm trí và tập trung tư duy, loại bỏ tạp niệm mà luận thuật, dùng văn tự khái quát thiên địa vạn vật: “Kì thủy dã, giai thu thị phản thính, đam tư bàng tấn. Tinh vụ bát cực, tâm du vạn nhận… Khánh trừng tâm dĩ ngưng tư, miễu chúng lự nhi vi ngôn. Lung thiên đích vu hình nội, tỏa vạn vật vu bút đoan”.
Tạm dịch:
Lúc mới bắt đầu, phải thu cái nhìn vào trong, nghe ngược vào nội tại (thu thị phản thính), đắm mình trong suy tưởng và tìm tòi sâu xa. Tinh thần rong ruổi khắp tám cõi, tâm trí phiêu du tận vạn trượng cao… Gạn sạch tâm trong để ngưng tụ suy nghĩ, gạt bỏ lo toan để cất thành lời. Thu tóm cả trời đất vào trong hình thức văn chương, nhào nặn cả vạn vật dưới đầu ngọn bút.
Lục Cơ đã khái quát 10 loại thể văn:
“Thi duyến tình nhi khỉ mĩ, phú thể vật nhi lưu lượng. Bi phi văn dĩ tương chất, lụy triền miên nhi thê sảng. Minh bác ước nhi ôn nhuận, châm đốn tỏa nhi thanh tráng. Tụng ưu du dĩ bân úy, luận tinh vi nhi lãng sướng. Tấu bình triệt dĩ nhàn nhã, thuyết vĩ diệp nhi quyệt cuống”.
Tạm dịch:
Thơ (Thi) khởi nguồn từ tình cảm mà hoa mỹ diễm lệ; Phú mô tả sự vật mà sáng sủa trôi chảy. Văn bia (Bi) phô bày văn chương để làm rõ thực chất; Văn tế (Lụy) thiết tha quấn quýt mà bi thương. Văn khắc (Minh) rộng lớn mà súc tích, ôn hòa nhuận sắc; Văn răn dạy (Châm) có nhịp điệu thăng trầm mà thanh thoát mạnh mẽ. Văn ca tụng (Tụng) khoan thai mà rực rỡ; Văn nghị luận (Luận) tinh vi mà rõ ràng khoáng đạt. Tấu chương (Tấu) minh bạch thấu đáo mà nhã nhặn; Văn thuyết phục (Thuyết) rực rỡ hào nhoáng nhưng có phần biến ảo, dối lừa.
Lục Cơ đúc kết tính nghệ thuật của văn học, có sự nối liền với các loại hình nghệ thuật khác: “Khuyết đại canh chi di vị, đồng chu huyền chi thanh phiếm; tuy nhất xướng nhi tam thán, cố kí nhã nhi bất diễm. Thí do vũ giả phó tiết dĩ đầu mệ, ca giả ứng huyền nhi khiển thanh”.
Tạm dịch:
Thiếu đi dư vị như món canh tế lễ (đại canh), lại thanh khiết như tiếng đàn dây chu (chu huyền); dẫu một người hát mà ba người khen ngợi thán phục, cốt ở sự thanh nhã mà không lòe loẹt. Ví như người múa vung tay áo theo nhịp điệu, người hát cất tiếng họa theo tiếng đàn.
Lục Cơ làm sáng tỏ nội hàm mà văn học chuyên chở, ý nghĩa của việc ghi chép lịch sử, cảnh giới thông suốt với thiên nhiên trời đất, và sứ mệnh hoằng dương đạo đức:
“Y tư văn chi vi dụng, cố chúng lí chi sở nhân. Khôi vạn lí nhi vô ngại, thông ức tái nhi vi tân. Phủ đãi tắc vu lai diệp, ngưỡng quan tượng hồ cổ nhân. Tể văn vũ vu tương trụy, tuyên phong thanh vu bất mẫn. Đồ vô viễn nhi bất di, lí vô vi nhi phất luân. Phối triêm nhuận vu vân vũ, tượng biến hóa hồ quỷ thần. Bị kim thạch nhi đức nghiễm, lưu quản huyền nhi nhật tân”.
Tạm dịch:
Cái công dụng của văn chương này, vốn là nơi nương tựa của mọi đạo lý. Mở rộng vạn dặm mà không vật cản, thông suốt triệu năm để làm bến bờ. Cúi xuống để lại khuôn mẫu cho đời sau, ngửa lên quan sát hình tượng của người xưa. Cứu vớt nghiệp văn võ khi sắp suy tàn, tuyên dương thanh danh giáo hóa để không bị mai một. Chẳng có đường nào xa mà văn không tới, chẳng có đạo lý nào nhỏ mà văn không bao hàm. Văn chương sánh với sự nhuần thấm của mây mưa, mô phỏng sự biến hóa của quỷ thần. Khắc vào kim loại, đá quý để đức hạnh lan xa; truyền qua ống sáo, dây đàn để ngày một mới mẻ.
Một phần Tác phẩm thư pháp “Văn Phú” do Lục Giản Chi thời Đường viết, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cố cung Quốc gia Đài Bắc. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
Thái Tông khẳng định thành tựu văn học và tài năng của Lục Cơ, cho rằng ý nghĩa trong văn chương của ông rộng lớn mà hiển rõ, dùng từ sâu sắc mà cao nhã. Văn chương hoành tráng diễm lệ, đương thời không ai sánh kịp; nghị luận khảng khái hào hùng, đứng đầu từ xưa đến nay. Ông đánh giá thành tựu của Lục Cơ là “vượt xa Mai, Mã” (Mai Thừa, Tư Mã Tương Như) và “sánh ngang Vương, Lưu” (Vương Xán, Lưu Trinh).
Thái Tông cho rằng Lục Cơ khi đối mặt với cảnh nước mất nhà tan, vì ham cầu công danh phú quý mà dấn thân vào nơi nguy hiểm, không biết nắm bắt thời cơ để ẩn mình hay xuất thế. Xem xét hành vi thực tế, trí tuệ của ông không theo kịp lời nói. Tiến không thể cứu vãn cục diện loạn lạc, lui không thể bảo toàn bản thân, dốc sức cho quốc gia đang nguy biến, đem lòng thành dâng cho quân chủ ngu dốt, thật khiến người ta đau xót.
Thái Tông chỉ ra rằng việc dòng họ Lục Cơ bị tiêu diệt, không có người nối dõi, thực chất là quả báo nhân quả: Nhà họ Lục ba đời làm tướng, sát phạt quá nhiều nên liên lụy đến con cháu đời sau; Lục Kháng từng tiêu diệt cả tộc Bộ Xiển ở Tây Lăng, thì Lục Cơ phải chịu họa báo tại cầu Hà Kiều.
(Còn tiếp)
(Theo The Epoch Times)
Dịch từ:



