Tác giả: Duncan Burch
[ChanhKien.org]
Bằng chứng khảo cổ học mới cho thấy lịch sử loài người có thể cổ xưa hơn nhiều so với những gì người ta từng được tưởng tưởng.
Công việc của các nhà khảo cổ học bao gồm một nhiệm vụ đầy khó khăn: dựa trên một lượng thông tin vô cùng hạn chế để xác định nơi chốn và cách thức mà tổ tiên loài người cổ đại từng sinh sống.
Mặc dù các sử gia cũng nỗ lực để có sự hiểu biết chính xác về các nền văn minh nhân loại trải dài hàng trăm hoặc vài nghìn năm, nhưng ít nhất họ cũng có khá nhiều hồ sơ và tài liệu để nghiên cứu.
Tuy nhiên, các nhà khảo cổ học lại tìm cách để biết về những thời kỳ xa xưa hơn nữa, hàng chục nghìn, hoặc hàng trăm nghìn, hoặc thậm chí hàng triệu năm về trước, và họ có rất rất ít tài liệu để làm cơ sở cho các kết luận của mình. Nhiệm vụ của họ tương tự như việc ghép một bức tranh lớn với chỉ một vài mảnh ghép, hoặc hiểu được cốt truyện của một cuốn tiểu thuyết với chỉ một vài trang còn sót lại.
Mặc dù dựa trên bằng chứng hữu hình từ việc kiểm nghiệm và nghiên cứu khoa học đối với các hiện vật được phát hiện, khảo cổ học cũng nhất thiết bao gồm một lượng đáng kể các suy đoán, phỏng đoán và sự tưởng tượng.
Khi những bằng chứng mới hoặc hiểu biết mới về các phát hiện trong quá khứ xuất hiện, họ có thể xác nhận, tinh chỉnh, hoặc phản đối những suy luận khảo cổ trước đó.
Sự phát triển của kỹ thuật trong những thập niên gần đây đã tạo ra những thay đổi chưa từng có trong ngành khảo cổ học. Những tiến bộ hiện đại trong kỹ thuật hàng không, radar, và sonar giúp cho các khảo cổ gia xác định vị trí và thu thập bằng chứng mới từ những địa điểm trước đây không thể tiếp cận được, cùng với những cải tiến vượt bậc về độ chính xác của việc xác định niên đại của hóa thạch và tạo vật cổ đại, đã cung cấp một bức tranh ngày càng rõ ràng hơn về quá khứ.
Từ những bức bích họa cổ đại và các đồ tạo tác đầy sáng tạo cho đến các công trình kiến trúc cổ đại bị chôn vùi từ lâu, nhiều khám phá hiện đại đã mang đến những hiểu biết sâu sắc hơn về bức tranh bí ẩn lớn của nền văn hóa nhân loại cổ đại.
Nghệ thuật hang động cổ xưa nhất được biết đến
Theo một nghiên cứu được các chuyên gia đánh giá đã được công bố trên tạp chí “Nature” vào tháng 01/2026, nghệ thuật hang động được phát hiện ở Sulawesi, Indonesia, đã được xác định niên đại chính xác là gần 68.000 năm tuổi, khiến nó trở thành nghệ thuật hang động cổ nhất được biết đến trên thế giới.
Các bức bích họa được xác định niên đại bằng cách phân tích lượng nhỏ uranium trong các lớp khoáng chất được hình thành trên bề mặt của các bức tranh, từ đó cung cấp niên đại sớm nhất có thể có của tác phẩm nghệ thuật này. Mặc dù các bức bích họa hang động ở Sulawesi cũng như một số vùng khác của Indonesia đã được khám phá trước đây, nhưng bằng chứng mới này khẳng định chắc chắn tổ tiên loài người đã sinh sống trong khu vực này sớm hơn khoảng 15.000 năm so với nhận định trước đó.
Những bức bích họa hang động này, bao gồm nhiều tranh vẽ bàn tay và tranh động vật tạo hình cũng như những hình vẽ người cổ xưa nhất được biết đến, cũng được tạo ra trong một khoảng thời gian vô cùng lâu dài, chúng tỏ rằng người tiền sử đã thường xuyên sinh sống ở khu vực này ít nhất 45.000 năm. Hơn nữa, người ta tin rằng ban đầu họ di cư đến đó bằng cách vượt đại dương, cho thấy rằng những người cổ đại này rất có thể đã phát triển kĩ năng đóng thuyền và định hướng. Vì vậy, phát hiện nghệ thuật mới đây đã khơi nguồn cho việc đánh giá lại hoàn toàn một số quan niệm được chấp nhận rộng rãi về vị trí và sự phát triển của loài người cổ đại.
Trước khi nghệ thuật hang động được phát hiện ở Sulawesi như đề cập ở trên, ví dụ lâu đời nhất được biết đến là nghệ thật hang động nằm ở hang Maltravieso thuộc Cáceres, Tây Ban Nha, vào năm 2018 được xác định niên đại là 64.000 năm tuổi. Những hang động đó chứa các bức tranh bằng đất sơn đen và đỏ, cho thấy sự thành thạo trong việc pha trộn chất màu, và chúng mô tả các nhóm động vật có vũ, các chấm, hoa văn, hình khắc, hình vẽ bàn tay, và dấu tay.
Bằng chứng về những bộ công cụ cổ xưa cũng đã được phát hiện tại địa điểm đó, cho thấy trình độ chế tác tinh xảo mà trước đây người ta chưa từng tin là tồn tại ở Châu Âu tại thời điểm đó.
Hình chụp hang Maltravieso với dấu tay bốn ngón của người Neanderthal, Caceres, Tây Ban Nha. (Ảnh: WH_Pics/Shutterstock.com)
Năng lực sáng tạo
Nói về nghệ thuật hang động cổ đại, trong số ví dụ đáng kinh ngạc nhất là các bức bích họa hang động Chauvet. Những bức vẽ này, được phát hiện ở Pháp năm 1994, cho thấy trình độ chế tác nghệ thuật cao; chúng mô tả chi tiết và chính xác về kích thước của ít nhất 14 loài động vật khác nhau, bao gồm bò rừng, hươu, gấu, sư tử, và báo, cũng như các động vật đã tuyệt chủng như voi ma mút và tê giác lông len.
Các nghiên cứu chuyên sâu hoàn thành năm 2012 đã xác định niên đại của những bức bích họa hang động cổ đại này ước tính khoảng 36.000 năm tuổi, sớm hơn nhiều so với thời điểm người ta tin rằng khả năng sáng tạo kiểu này đã phát triển ở loài người.
Một người đang chiêm ngưỡng bản sao có kích thước thật của bức bích họa được tìm thấy ở hang Chauvet, miền Nam nước Pháp, ngày 08/04/2015. (Ảnh: Jeff Pachoud/AFP qua Getty Images)
Và tổ tiên loài người cổ đại chúng ta đã biểu đạt bản thân bằng nghệ thuật không chỉ bằng cách vẽ. Nhiều nhạc cụ, chủ yếu là sáo, làm từ xương của động vật, đã được phát hiện trong vài thập niên qua, một số có niên đại hàng chục ngàn năm.
Hiện tại, nhạc cụ được cho là cổ xưa nhất mà một số nhà khảo cổ học tin là một cây sáo được làm từ xương đùi của một con gấu, được phát hiện trong một cái hang gần Cerkno, Slovenia vào năm 1995 và ước tính có niên đại khoảng 50.000-60.000 tuổi, mặc dù các nhà khảo cổ học khác lại cho rằng các lỗ trên xương là do động vật ăn thịt gặm nhấm.
Mặc dù ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy sự sáng tạo và biểu đạt nghệ thuật của con người trải dài hàng chục ngàn năm, nhưng cũng có thêm bằng chứng cho thấy điều này có thể vẫn còn lâu đời hơn nữa.
Đặc biệt, các vỏ sò được khắc hình đã được phát hiện ở Java, Indonesia vào năm 1891, nhưng chúng nằm trong một ngăn kéo bảo tàng khoảng hơn 100 năm trước khi được kiểm tra và xác định niên đại bằng các kỹ thuật khoa học hiện đại. Trong một nghiên cứu năm 2014, cũng được công bố trên tạp chí “Nature”, các nhà khoa học đã kết luận rằng “việc tạo các hình khắc hình học thường được hiểu là biểu hiện của nhận thức và hành vi hiện đại”. Và niên đại của những vỏ sò được khắc ước tính khoảng nửa triệu năm trước.
Các công trình nhân tạo dưới nước
Năm 2019, các công trình kiến trúc bằng gỗ cổ nhất trên thế giới do con người tạo ra đã được phát hiện tại Thác Kalambo, thuộc quốc gia Zambia ở miền Nam Châu Phi. Một nghiên cứu mở rộng được công bố trên tạp chí “Nature” năm 2023 kết luận rằng “các khúc gỗ lắp vào nhau được nối với nhau theo chiều ngang bằng một rãnh được cắt có chủ ý”, và các công trình kiến trúc này được xác định có niên đại khoảng 475.000 năm tuổi.
Điều này cho thấy rằng tổ tiên loài người sống trong thời kỳ thường được gọi là Thời kỳ Đồ đá có thể không phải là những người săn bắt hái lượm du mục như người ta từng nghĩ vậy, mà là họ đã sống trong những nơi cư ngụ cố định và các cộng đồng phát triển hơn.
Nhà khảo cổ học Larry Barham thuộc Đại học Liverpool đã nghiên cứu công trình kiến trúc bằng gỗ cổ xưa được bảo tồn nhờ lớp trầm tích ngập nước ở Zambia. (Ảnh được đăng dưới sự cho phép của Larry Barham)
Mặc dù dòng nước ở Thác Kalambo giúp cho gỗ cổ đại được bảo quản lâu hơn nhiều so với bình thường, nhưng một trong những trở ngại chính trong việc nghiên cứu các tạo vật dưới nước là sự khó khăn trong việc xác định niên đại chính xác do ảnh hưởng của nước. Thêm vào đó, nhiệm vụ này thường trở nên phức tạp hơn do thủy triều và dòng chảy vốn gây khó khăn trong việc xác định vị trí ban đầu của các hiện vật được tìm thấy.
Ví dụ, năm 2000, một nhóm nghiên cứu từ Viện Kỹ thuật Đại dương Quốc gia Ấn Độ đang thực hiện các cuộc khảo sát ô nhiễm định kỳ thì thiết bị định vị sóng siêu âm phát hiện các công trình kiến trúc hình học lớn dưới đáy biển ở Vịnh Khambhat. Sau khi khám phá thêm, họ phát hiện những gì dường như là tàn tích của một thành phố cổ đại, và các tạo vật thu thập được từ địa điểm này bao gồm đồ gốm, hạt cườm, tượng, những bức tường, và xương người. Phương pháp xác định niên đại bằng carbon cho thấy nhiều tạo vật có niên đại khoảng 9.500 tuổi, nghĩa là xa xưa hơn vài nghìn năm so với các cộng đồng định cư do con người xây dựng cổ nhất được biết đến ở Mesopotamia và châu Phi.
Tuy nhiên, một số khoa học gia đã đặt câu hỏi về tính chính xác của những phát hiện này, nêu ra rằng các tạo vật có niên đại xác định có thể đã được dòng thủy triều mang đến địa điểm đó, và bố cục hình học của địa điểm cũng có thể là kết quả từ các lực tự nhiên.
Các phát hiện tương tự khác đã được thực hiện ngoài khơi bờ biển Cuba và Nhật Bản, cũng như các nơi khác, nhưng những phát hiện đó cũng gặp phải sự hoài nghi từ các nhà khoa học và khảo cổ học.
Mặc dù mỗi phát hiện mới cung cấp thêm một mảnh ghép cho bức tranh ghép hình khổng lồ và phức tạp về lịch sử tổ tiên của chúng ta, nhưng chúng ta vẫn đang xếp hình với chỉ một vài mảnh ghép nhỏ của bức tranh toàn cảnh.
Nhìn chung, chúng ta chỉ có thể tưởng tượng kiểu cộng đồng mà tổ tiên nhân loại cổ đại của chúng ta đã sống khi họ tạo các bức tranh và chơi nhạc cách đây 50.000 năm, hoặc khi họ chế tác các công trình bằng gỗ và thiết kế đồ trang sức cách đây nửa triệu năm.
Khi kỹ thuật hiện đại mở rộng cả về phạm vi khám phá của chúng ta và độ chính xác của phân tích, các nhà khảo cổ học sẽ khám phá ra nhiều manh mối đáng kinh ngạc hơn nữa, cung cấp thêm nhiều hiểu biết sâu sắc về những bí ẩn rộng lớn trong quá khứ xa xưa của nhân loại.
(Theo The Epoch Times)
Dịch từ:
https://www.theepochtimes.com/article/the-lost-history-of-human-civilization-6004220


