[ChanhKien.org]

I. Những câu chuyện tu luyện của tinh anh các giới

21. Các nhà khoa học tu luyện chứng thực Đại Pháp là khoa học siêu thường

Tác giả: Nhóm của Viên Lệ

Lý Bảo Khánh từ một nhà khoa học trở thành một người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp; những trải nghiệm và sự thay đổi trong nhân sinh quan của ông đã khiến người dân trong xã hội ngày nay không khỏi hiếu kỳ. Đứng trước khoa học và tu luyện, việc ông lựa chọn và được lựa chọn đã cho mọi người thấy được mối quan hệ giữa “tu luyện khí công và khoa học”, cũng như nguyên nhân vì sao ĐCSTQ bức hại Pháp Luân Công.

Nhà khoa học ngày xưa, người tu luyện hôm nay

Lý Bảo Khánh từ khi tốt nghiệp Đại học Thanh Hoa cho đến lúc nghỉ hưu luôn làm công tác nghiên cứu khoa học tại Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (Trung Khoa Viện). Ông là nghiên cứu viên cấp giáo sư, hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ, chuyên tâm vào các nghiên cứu và thành tựu học thuật, từng giành được nhiều giải thưởng thành tựu nghiên cứu khoa học.

Ông cho biết: “Năm 1991, tôi từng nhận danh hiệu ‘Cá nhân tiên tiến trong các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trọng điểm của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc’; năm 1993 lại được Quốc vụ viện biểu dương, hưởng trợ cấp đặc biệt của Chính phủ. Mục tiêu của tôi là trở thành viện sĩ của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc”. Trong Ủy ban Viện sĩ của Trung Khoa Viện thời bấy giờ, những nhân vật được mọi người kính trọng như ông Trương Quang Đấu trong giới Thủy lợi, ông Hoàng Bỉnh Duy trong giới Địa lý đều có những đánh giá rất cao về ông. Lý Bảo Khánh còn cùng với ba vị viện sĩ khác đồng đảm nhận một dự án nghiên cứu quỹ trọng điểm quốc gia về “Nông nghiệp tiết kiệm nước”, và ông là một trong những người đứng đầu dự án đó. Năm 1997, Lý Bảo Khánh được Trung tâm Danh nhân Quốc tế Cambridge của Anh đưa vào cuốn “Từ điển Danh nhân Quốc tế”.

Đầu thập niên 90, khí công lúc bấy giờ đang rất thịnh hành tại Trung Quốc, nhưng nhà khoa học năm xưa này đã dồn hết tâm sức vào việc nghiên cứu và khám phá khoa học, hoàn toàn không có thời gian để bận tâm đến việc tu luyện khí công. Năm 1993, vợ ông – người cũng đảm nhận vị trí phó nghiên cứu viên tại Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc – đã bắt đầu bước chân vào con đường tu luyện khí công. Ông kể lại: “Vợ tôi đắc Pháp từ năm 1993, từ một người vốn nổi tiếng là ‘hũ thuốc’ đã trở thành một người không còn bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng. Bà ấy luôn khuyên tôi nên luyện Pháp Luân Công, nhưng tôi không để tâm, chỉ nghĩ rằng vì bà ấy mắc bệnh mãn tính nên luyện công mới có hiệu quả. Còn tôi thỉnh thoảng mới đau đầu nóng sốt, cảm cúm ho hắng, uống chút thuốc rồi ngủ vài giấc là khỏi, không cần thiết phải bỏ công sức ra luyện công”.

Năm 1995, khi đang vùi đầu vào công tác nghiên cứu khoa học, Lý Bảo Khánh mắc bệnh zona thần kinh và bỗng nhiên bị điếc. Ông đã đến bệnh viện điều trị nhưng không hiệu quả, sau đó lại tìm đến Trung tâm Đào tạo Châm cứu Quốc tế để khám Trung y. “Do liệu trình quá dài, lại không biết có đảm bảo khỏi bệnh hay không, nên trong lúc đang phiền não, tôi đã có may mắn gặp được lớp học video chín bài giảng của Pháp Luân Đại Pháp do trạm phụ đạo Pháp Luân Công tại khu dân cư tổ chức vào dịp Tết Nguyên Đán năm 1996. Dưới sự khuyên nhủ và đồng hành của vợ, cuối cùng tôi đã lên đường tham gia, từ đó hiểu được sự thâm sâu và rộng lớn của Pháp Luân Đại Pháp”.

Sau khi tham gia xong lớp học Pháp Luân Đại Pháp chín ngày, Lý Bảo Khánh cảm thấy vô cùng chấn động. Ông nói: “Tôi chưa từng được nghe một báo cáo học thuật nào tuyệt vời đến thế. So sánh ra mới thấy, khoa học hiện đại chỉ dùng hai chữ ‘mê tín’ để đánh đổ và triệt tiêu Thần Phật, điều đó quả thực quá thiếu khoa học, thậm chí trở nên nực cười như trò trẻ con. Tôi xem đến nhập thần, nghe đến nhập tâm, cảm giác như Sư phụ đang ở ngay tại hiện trường. Sau chín ngày học, không những bệnh tật biến mất mà ngay cả việc hút thuốc, uống rượu tôi cũng quên bẵng đi. Không cần uống thuốc, không cần châm cứu, chỉ luyện công học Pháp mà có thể khỏi bệnh; tôi đã bước đầu trải nghiệm được sự thần kỳ của Pháp Luân Đại Pháp và sự vĩ đại của Phật Pháp”.

Sau khi trở về, Lý Bảo Khánh bắt đầu đọc cuốn “Chuyển Pháp Luân”. Ông cảm nhận được những thay đổi của cả thân lẫn tâm, ông chia sẻ rằng dần dần ngay cả nhân sinh quan và thế giới quan của mình cũng đều biến đổi. Ông tập trung học Pháp, luyện công, tu sửa tâm tính, chiểu theo “Chân – Thiện – Nhẫn” để làm một người tốt vô tư vô ngã, tiên tha hậu ngã, những việc truy cầu danh lợi cũng theo đó mà nhạt dần rồi quên đi. Từ năm 1996 đến nay, ông Lý Bảo Khánh bước vào tu luyện Đại Pháp đã gần 16 năm. Do cuộc bức hại Pháp Luân Công của ĐCSTQ, cuộc sống của ông sau khi tu luyện gặp nhiều trắc trở, gian nan; mãi cho đến khi chuyển đến Úc, ông mới thoát khỏi sự bức hại của ĐCSTQ. Sau khi đã nếm trải đủ mọi khổ nạn, điều gì đã khiến một nhà khoa học như ông trở thành một người tu luyện kiên định đến vậy?

Khoa học thực chứng là hữu hạn, những bậc thầy khoa học luôn tôn thờ Thần

Với tư cách là một nhà khoa học từng có nhiều năm nghiên cứu trong lĩnh vực thủy văn, trước hết, Lý Bảo Khánh đã chia sẻ về nhận thức của mình đối với khoa học thực chứng và tu luyện khí công hiện nay. Ông cho biết: “Khoa học phương Tây hiện đại là khoa học thực chứng, kiến thức của nhân loại đều thuộc về không gian vật chất này, nên luôn luôn hữu hạn và không hoàn thiện. Bởi vì con người không thể chứng thực được sự tồn tại của các không gian khác, không nhìn thấy các hình thức tồn tại của sinh mệnh và vật chất ở không gian khác, không chứng thực được sự hiện hữu của Thần Phật; nó cũng không biết rằng nhân loại có loại vật chất gọi là đức thể hiện trên thân thể người, cũng không biết rằng con người còn có loại vật chất là nghiệp lực biểu hiện xung quanh cơ thể. Nó không thể chứng thực được những sự việc thuộc phạm trù khí công và tu luyện. Nó coi tất cả những chuyện về thiện ác đạo đức hay Thần Phật đều là không tồn tại, không khoa học và là mê tín. Chẳng phải như vậy đã trở thành ‘ếch ngồi đáy giếng’ rồi sao?”

“Điều nghiêm trọng hơn là, mọi người đều tin vào khoa học thực chứng hiện đại, mà khoa học thực chứng lại không thể chứng thực được sự tồn tại của Đức và Nghiệp; từ đó con người không còn sự ràng buộc của tâm pháp, không có quy phạm đạo đức, chuyện xấu gì cũng dám làm. Điều này đẩy đạo đức của nhân loại không ngừng trượt dốc, xã hội sẽ rơi vào tình trạng không ai có thể cứu vãn nổi, và con người cũng đã đến lúc nguy hiểm nhất rồi. Mọi người không nhìn thấy được những mối đe dọa tiềm tàng và thảm họa to lớn mà khoa học sẽ mang đến cho nhân loại”, ông nói.

Lý Bảo Khánh còn giảng rằng: “Khoa học thực chứng dùng mắt thịt của con người hoặc nhờ vào các công cụ để nghiên cứu những thứ hữu hình trong không gian của nhân loại, thứ gì không nhìn thấy thì không thừa nhận, chứ chưa nói đến không gian khác. Do đó, con người rất dễ bị lạc lối vào những tà thuyết như duy vật luận, vô thần luận, triết học đấu tranh, hay các thuyết tiến hóa kiểu ‘thích nghi thì tồn tại’, ‘cá lớn nuốt cá bé’, thậm chí còn bị tà linh cộng sản lợi dụng và khống chế. Thế nhưng, những nhà khoa học thực thụ sẽ không đóng kín tư duy của mình, không tuyệt đối hóa nhận thức của bản thân, họ thừa nhận những thiếu sót của mình, không ngừng cầu tiến, trước sau luôn tin tưởng vào tác dụng của sinh mệnh cao tầng, họ sẽ tiến tới tín ngưỡng. Hơn nữa, khoa học là do con người nghiên cứu ra, vậy con người tin vào điều gì? Đi con đường nào? Đều là quyết định của con người, là sự lựa chọn của chính con người chứ không phụ thuộc vào khoa học”.

Tín ngưỡng vào Thần của các nhà khoa học trong lịch sử

Lý Bảo Khánh đã giới thiệu cuộc điều tra của Gallup về đức tin của 300 nhà khoa học nổi tiếng trong suốt 300 năm qua, trong đó 38 người không tìm thấy thông tin liên quan. Trong số 262 nhà khoa học còn lại, số người không tin Thần là 20 người (chỉ chiếm 8%), còn số người tin vào Thần chiếm tới 92%. Ông nói: “Hầu hết tất cả những bậc cự phách về khoa học từng có đóng góp to lớn cho sự phát triển của khoa học như Faraday, Volta, Ohm, Ampère, Maxwell… cũng bao gồm cả Edison, Röntgen, hay các chuyên gia năng lượng nguyên tử hiện đại như Pratt, Compton, Fermi, v.v., đều bước trên con đường tín ngưỡng vào Thần”.

Ông cho biết Darwin, vốn là ông tổ của thuyết tiến hóa, nhưng vào những năm cuối đời, ông ta đã hoàn toàn tỉnh ngộ và trở thành một tín đồ Kitô giáo nhiệt thành. Pavlov của Liên Xô cũ cũng là một tín đồ ngoan đạo. Newton là bậc thầy đặt nền móng cho vật lý học cổ điển, thế nhưng phần lớn tâm sức cả đời của ông lại chủ yếu dành cho việc nghiên cứu Thần học, ông xem nghiên cứu khoa học chỉ là việc phụ, chẳng qua là để chứng minh sự vĩ đại của công đức tạo hóa của Thần mà thôi. Ông kể rằng: “Khi bạn của Newton trầm trồ khen ngợi mô hình hệ mặt trời do ông chế tạo, ông đã nói rằng điều này chẳng đáng là gì, chẳng phải dải Ngân hà và vũ trụ do Thần tạo ra còn thần kỳ hơn sao? Trước khi qua đời, ông nói rằng những thành tựu của mình so với sự sáng tạo vĩ đại của Thần thì cũng chỉ giống như một đứa trẻ thỉnh thoảng nhặt được một vài vỏ ốc đẹp đẽ bên bờ đại dương bao la mà thôi”.

Khi bàn về bậc vĩ nhân khoa học Einstein, ông nói, Einstein từng chia sẻ rằng: “Sự hiện hữu của một vị Thần siêu việt vô hạn được hiển hiện qua những chi tiết nhỏ nhặt nhất mà trí huệ yếu ớt của chúng ta có thể nhận biết được, tôi hoàn toàn tâm phục khẩu phục trước điều đó, và đức tin của tôi cũng được hình thành từ đây. Trong sâu thẳm tâm hồn mình, tôi tin chắc rằng có một trí huệ siêu việt đang hiển hiện rõ ràng trong vũ trụ huyền diệu này, điều đó tạo nên niềm tin của tôi vào Thần”.

Lý Bảo Khánh cảm thán rằng: “Có thể thấy, khoa học không hề khiến những bậc khoa học cự phách này rời xa Thần, mà trái lại còn làm sâu sắc thêm lòng kính ngưỡng của họ đối với Thần”. Ông đề cập rằng việc tu luyện Pháp Luân Đại Pháp không thể dùng khoa học thực chứng thông thường để nhận thức. Ông hy vọng những ai thực sự muốn tìm hiểu về Pháp Luân Công hãy đọc kỹ cuốn sách này, giống như những nhà khoa học kia, đừng bao giờ cố chấp hay đóng kín tư duy và nhận thức của chính mình.

Bị bức hại vì kiên định đức tin vào “Chân – Thiện – Nhẫn”

Tháng 7/1999, sau khi ĐCSTQ bắt đầu cuộc đàn áp Pháp Luân Công, ông Lý Bảo Khánh (67 tuổi) đã nhiều lần viết thư gửi lên trung ương, chính quyền địa phương, các quan chức và các cơ quan truyền thông liên quan, để nói về những trải nghiệm thực tế của bản thân khi thân tâm được thụ ích nhờ tu luyện Pháp Luân Công. Tuy nhiên, ông đã bị tước bỏ tư cách và kinh phí nghiên cứu đề tài, đồng thời bản thân ông cũng bị giam giữ bốn lần.

Ông cho biết: “Ngày 26/10/1999, tôi đã chính thức ra khỏi Đảng (ĐCSTQ) tại đại hội chi bộ. Tôi đã lần lượt bị đồn công an Thiên An Môn thuộc Công an thành phố Bắc Kinh, Công an quận Hải Điện, Phòng số 7 (Phòng trọng án) và Phòng số 14 (Phòng Khoa giáo) thuộc Công an thành phố Bắc Kinh bắt giữ phi pháp. Cùng với những lần bị đồn công an địa phương triệu tập 24 giờ hoặc 48 giờ, tổng thời gian tôi bị giam giữ phi pháp là hơn bốn tháng.

Ngày 1/2/2001, Lưu Nghị – Bí thư Đảng ủy viện nghiên cứu, đã lấy danh nghĩa mời Lý Bảo Khánh đến nói chuyện để lừa ông tới văn phòng của mình. Tại đây, Lưu Nghị yêu cầu ông Lý phải tham gia cái gọi là “lớp học tập giáo dục pháp chế” do Đảng ủy Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc tổ chức phi pháp.

Ông Lý Bảo Khánh đã giảng đạo lý cho Lưu Nghị và bày tỏ thái độ không đi. Lúc đó, Hồ Thục Văn – Chủ nhiệm văn phòng Đảng ủy có mặt tại hiện trường đã đi ra cửa, ngay lập tức có 6-7 gã đàn ông lực lưỡng ập vào. Họ xông lên trùm kín đầu ông Lý, kẻ giữ tay người giữ chân, kẻ ấn đầu người ôm chân, rồi không một lời giải thích, họ cưỡng chế bắt cóc ông từ văn phòng tầng ba của tòa nhà tống lên chiếc xe hơi đã được sắp xếp sẵn ở cổng lớn.

Ông Lý Bảo Khánh đã ra sức vùng vẫy và hô lớn: “Bí thư Lưu, tôi không hề vi phạm pháp luật hay phạm tội, ông không thể đối xử với tôi như thế này!”, “Tôi đã là người ngoài 60 tuổi rồi, các người làm như thế này là vô nhân đạo!”

Đối mặt với các biện pháp cưỡng chế phi pháp, ông Lý Bảo Khánh đã nhiều lần chất vấn Bành Ngọc Thủy – Bí thư Đảng ủy khu vực Bắc Kinh của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (người phụ trách việc “tẩy não”): “Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc là đơn vị nghiên cứu khoa học, lấy quyền gì mà thực hiện các biện pháp cưỡng chế đối với một công dân tự do?! Đây hoàn toàn là bộ dạng của lối ‘chuyên chính quần chúng’ trong thời Cách mạng Văn hóa, là hành vi vi phạm pháp luật và phạm tội! Tôi không phải là đảng viên ĐCSTQ, vậy Đảng ủy khối, Đảng ủy Viện, Đảng ủy Viện Địa lý lấy quyền gì mà quản chế tôi?!”

Tại cái gọi là “lớp học tập giáo dục pháp chế”, ông Lý Bảo Khánh đặt vấn đề rằng, đã là lớp giáo dục pháp luật thì phải có văn bản, điều lệ hay giáo trình, và ông đã nhiều lần yêu cầu những người có trách nhiệm cung cấp. Họ trả lời rằng: “Đây là do Đảng ủy khối tổ chức, chỉ có nguyên tắc và tinh thần thôi, không có điều lệ cụ thể”. Họ còn nói thêm: “Là do Giang Trạch Dân quyết định, báo ‘Nhân dân Nhật báo’ đã đăng rồi, ông còn muốn văn bản pháp luật gì nữa?”

Ngày 6/2/2001, Trung đội trưởng Tiêu Học Tiên đã đe dọa ông Lý Bảo Khánh rằng: “Đã vào lớp này thì ‘chuyển hóa’ (từ bỏ đức tin) cũng phải ‘chuyển hóa’, mà không ‘chuyển hóa’ cũng bắt buộc phải ‘chuyển hóa’; đối với những kẻ quyết không ‘chuyển hóa’ thì có thể đưa thẳng đến trại lao cải (lao động cưỡng bức) hoặc tống vào tù; mà dù có bị lao cải hay ngồi tù thì cũng phải ‘chuyển hóa’, không ‘chuyển hóa’ thì đừng hòng bước chân ra ngoài”.

Tiêu Học Tiên nói: “Không có chuyện hết hạn tù là được thả đâu. Pháp luật và quy trình tố tụng không có tác dụng với Pháp Luân Công, nhà nước thực thi chính sách đặc biệt với Pháp Luân Công”.

Ông Lý Bảo Khánh bị giam giữ phi pháp tổng cộng hơn bốn tháng, còn bị “Phòng 610” của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc bắt cóc đưa đến Trại lao động giáo dưỡng Bắc Kinh (nơi chuyên thiết lập các lớp tẩy não cưỡng bức để đàn áp Pháp Luân Công). Tại đây, ông bị cưỡng bức tẩy não trong một tháng và phải chịu đựng đủ mọi sự lăng mạ, giày vò.

Vừa vào trại lao động, cảnh sát đã ra vẻ trịnh trọng đeo cho ông một chiếc “thẻ khách quý” màu đỏ, nhưng thực tế lại áp dụng các biện pháp cưỡng chế dành cho đối tượng cải tạo lao động: không cho phép nói chuyện với người khác, không được gọi điện thoại, không được tự do đi lại, thậm chí ngay cả việc uống nước hay đi vệ sinh cũng phải xin phép báo cáo. Vị “khách quý” khi đó đã ngoài 60 tuổi này bị quản chế bởi những nhân viên đeo thẻ ngực màu trắng. Ngay cả khi ở nhà, ông cũng bị giám sát chặt chẽ và hoàn toàn không có tự do, cho đến khi ông thoát được sang Úc năm 2003.

Sau này Lý Bảo Khánh đã bình luận về lớp tẩy não này trong bài viết của mình như sau:

“Những cái gọi là lớp giáo dục pháp chế và lớp chuyển hóa, tẩy não người tu luyện này thực chất là những lớp học tội ác phá hoại Hiến pháp, xâm phạm nhân quyền. Chúng tự ý lập công đường, thẩm vấn trái phép, lừa gạt, dụ dỗ, ép buộc và trừng phạt không từ thủ đoạn nào; đó là nơi vô pháp, vô thiên, vô đạo đức, vô lẽ phải – một hang ổ ma quỷ, mang bản chất là hành vi phạm tội có tính chất xã hội đen theo băng nhóm. Kẻ chủ mưu đứng sau là Giang Trạch Dân. Những hành vi ấy đã tạo nghiệp nặng nề với con người, đối với chính họ, đối với đất nước và xã hội; tội ác tày trời…”

Ông cho biết chính cuộc đàn áp này đã khiến ông không thể tiếp tục công việc nghiên cứu khoa học, từ đó bước lên con đường giảng chân tướng, phản bức hại, tu luyện Chính Pháp và cứu độ thế nhân.

Tố cáo tội ác của Giang Trạch Dân

Lý Bảo Khánh khi nhắc đến cuộc đàn áp của ĐCSTQ đã nói rằng: “Cuộc đàn áp Pháp Luân Công của tập đoàn Giang – La bắt đầu từ việc ‘bôi nhọ danh dự’, mưu đồ chụp lên đầu Pháp Luân Công cái mũ lớn là ‘mê tín’. Năm 1996, họ đã cho đăng bài viết ‘Đề cao khoa học, phản đối mê tín’ trên tờ Quang Minh Nhật Báo để vu khống và công kích Pháp Luân Công, nhưng hành động này đã thất bại do đông đảo học viên viết thư giảng chân tướng gửi đến tòa soạn. Tháng 5/1998, họ lại xúi giục Hà Tộ Hưu – anh em cọc chèo của La Cán – dưới danh nghĩa Viện sĩ Viện Khoa học, lên Đài Truyền hình Bắc Kinh để phỉ báng Pháp Luân Công, nói rằng một nghiên cứu sinh của ông ta vì luyện công mà bị ‘tẩu hỏa nhập ma’, v.v. Nhiều sinh viên tại Học viện Nghiên cứu sinh thuộc Viện Khoa học Trung Quốc đã làm rõ với ông ta rằng người đó hoàn toàn không luyện Pháp Luân Công, trực tiếp vạch trần lời nói dối của ông ta. Rất nhiều học viên Pháp Luân Công khác cũng đã đến Đài Truyền hình Bắc Kinh giảng chân tướng, và đài truyền hình cũng đã thừa nhận sai lầm. Tháng 4/1999, vẫn là ông viện sĩ này, vẫn dùng lời nói dối đó, đã đăng bài trên tạp chí “Triển lãm Sức khỏe Thanh thiếu niên” tại Thiên Tân, công nhiên tuyên bố rằng thanh thiếu niên không nên luyện Pháp Luân Công. Cục Công an thành phố Thiên Tân còn xua đuổi và bắt giữ các học viên Pháp Luân Công đến giảng chân tướng, dẫn đến “Sự kiện 25/4”. Cuối cùng, tập đoàn Giang – La đã gỡ bỏ lớp mặt nạ ngụy khoa học, chính thức phát động cuộc vận động chính trị đàn áp Pháp Luân Công vào tháng 7/1999.

Ông cho rằng chính vì Pháp Luân Công tu luyện theo đặc tính vũ trụ “Chân – Thiện – Nhẫn”, hoàn toàn xung khắc như nước với lửa với chủ nghĩa vô thần và bản chất “giả – ác – đấu” của ĐCSTQ; hơn nữa, số người tu luyện Pháp Luân Công còn vượt quá số đảng viên cộng sản, khi đó trong cấp cao của ĐCSTQ cũng có lãnh đạo và người thân của họ tu luyện, khiến Giang Trạch Dân run sợ. Điều mà Giang Trạch Dân và những kẻ cùng phe thực sự sợ hãi và điên cuồng muốn tiêu diệt chính là Pháp Luân Phật Pháp — là khoa học huyền diệu, siêu thường nhất trong tất cả các học thuyết trên thế giới; là người sáng lập Pháp Luân Công, người đã tạo dựng môn khoa học này và hồng truyền Chính Pháp, cứu độ chúng sinh; cũng như các học viên Pháp Luân Đại Pháp — những người thực hành môn khoa học ấy và bước đi trên con đường của Thần.

Lý Bảo Khánh từ rất sớm, trong bài viết ngày 2/10/2004 mang tựa đề “Tố cáo tội ác của Giang Trạch Dân”, đã viết rằng:

Giang Trạch Dân không phải là một lãnh đạo do dân bầu, mà là kẻ giẫm lên máu của sinh viên trong sự kiện “Lục Tứ” để leo vào Trung Nam Hải. Khi được lệnh vào Bắc Kinh, ông ta nơm nớp lo sợ, tâm địa như kẻ trộm, hoàn toàn không dám nghĩ rằng mình đã được chọn. Kết quả là tiểu nhân đắc chí, một bước lên trời. Đặc biệt sau khi Đặng Tiểu Bình qua đời, ông ta nắm giữ ba chức danh tối cao trong Đảng, chính quyền và quân đội, càng trở nên đắc ý quên mình. Đúng như cái gọi là: “Ấy là loài sói Trung Sơn, hễ được thế thì càng thêm ngang ngược”.

Để phô trương uy thế của mình với tư cách là “hạt nhân thế hệ thứ ba”, ông ta vì lợi ích mà mờ mắt, đem toàn bộ canh bạc đặt vào cuộc vận động chính trị mang tên “chiến thắng Pháp Luân Công”. Ông ta thao túng quyền lực, toan tính thông qua việc đàn áp Pháp Luân Công để củng cố địa vị của mình. Không ngờ lại tự nhấc đá đập vào chân mình; tên hề chính trị ham quyền lực này đã phải đối mặt với các vụ khởi kiện của học viên Pháp Luân Công ở nhiều quốc gia. Dưới đây là những tội ác của tên hề đó.

Lấy Đảng thay thế chính quyền…

Lấy quyền lực thay thế pháp luật…

Cướp đoạt quyền hành chính của Quốc vụ viện…

Thao túng quyền lực quân đội, làm loạn Đảng, loạn nước, loạn pháp luật…

(Xem chi tiết tại [Minghui.org, ngày 2/10/2004]: “Cựu nghiên cứu sinh tiến sĩ, giảng viên hướng dẫn của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc Lý Bảo Khánh tố cáo tội ác của Giang Trạch Dân”)

(Tuyển chọn và biên tập từ [The Epoch Times, ngày 18/6/2012]: “Nhà khoa học Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc bàn về khoa học và sự lựa chọn cuộc đời”)

(Còn tiếp)

Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/251870