Tác giả: Dung Tử
[ChanhKien.org]
“Tây Du Ký” là một trong tứ đại danh tác của Trung Quốc. Trong cuốn sách, tác giả Ngô Thừa Ân mô tả các loại ma nạn mà bốn thầy trò Đường Tăng đã trải qua trên đường sang Tây Thiên thỉnh kinh, tính cách của Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới và Sa Ngộ Tĩnh cũng được khắc họa sống động và chân thực. Trong cuốn sách có nhiều chỗ đề cập tới Trung Y và Trung Dược, từ đó có thể thấy được Trung Y đã cắm rễ rất sâu vào nền văn hóa Trung Hoa.
Trong hồi thứ 68 của “Tây Du Ký”: “Nước Chu Tử, Đường Tăng bàn đời trước, Chữa quốc vương, Hành Giả đóng thầy lang” [1], có một tình tiết về việc Tôn Ngộ Không chẩn đoán và chữa bệnh cho quốc vương nước Chu Tử. Tôn Ngộ Không nói:
“Y môn lý pháp cực huyền,
Trong lòng cốt phải cần chuyên mới thành.
Vọng, văn, vấn, thiết rành rành,
Thiếu một điều ấy chẳng thành y khoa.
Một là thần sắc xem qua,
Nhuận khô, gầy béo nhận ra tỏ tường.
Hai nghe giọng nói trong, khàn,
Lời chân chất hoặc ngông cuồng biết ngay.
Ba hỏi bệnh đã mấy ngày,
Uống, ăn, đái, ỉa bấy nay thế nào?
Bốn bắt mạch biết thấp cao,
Phù trầm, biểu lý loại nào rõ ngay.
Vọng, văn, vấn, thiết không hay,
Mệnh này đừng tưởng có ngày được yên”. [2]
Câu nói này của Tôn Ngộ Không đã đề cập đến những kỹ thuật chẩn đoán bệnh cơ bản của Trung Y (chữ in đậm) như vọng văn vấn thiết, âm dương biểu lý và hư thực trầm phù.
Một trong những đoạn rất xuất sắc là khi Tôn Ngộ Không “treo sợi tơ bắt mạch” cho quốc vương nước Chu Tử: Tôn Ngộ Không đưa ba sợi chỉ vàng cho hoạn quan và bảo ông ta buộc một đầu ba sợi chỉ vào cổ tay trái của vua, ấn đúng vào vị trí ba bộ thốn, quan, xích, và thả đầu còn lại ra ngoài cửa sổ. Hành Giả đỡ lấy đầu sợi tơ, để lên đầu ngón tay cái của tay phải rồi dùng ngón trỏ đè lấy, thế là xem xong mạch thốn; tiếp theo lấy ngón tay giữa đè lên ngón tay cái, thế là xem xong mạch quan; lại lấy ngón tay cái đè lên ngón áp út, thế là xem xong mạch xích; sau đó điều tính theo sự hô hấp của mình, chia rõ tứ khí: ngũ uất, thất biểu, bát lý, cửu hậu; trong trầm có phù, trong phù có trầm, phân rõ nguyên do hư thực; rồi lại bảo cởi dây ở tay trái ra, theo đúng các bộ vị như trước buộc sang tay phải. Hành Giả lại lấy ngón tay bên trái, nhất nhất từ đầu đến cuối xem mạch như trước đó, xem xong rùng mình lên một cái, thu cả những dây kim tuyến vào mình, cất cao giọng nghiêm trang, nói: “Bên tay trái bệ hạ, mạch thốn cường và khẩn, mạch quan sắc và hoãn, mạch xích hống lại trầm; tay phải mạch thốn phù và hoạt, mạch quan trì và kết, mạch xích sắc và lao. Xét mạch thốn bên tay tả cường và khẩn, trong hư nhược, tim đau; mạch quan sắc và hoãn, ra mồ hôi, ngoài da bị tê; mạch xích hống và trầm, tiểu tiện đỏ và đại tiện có huyết. Tay phải mạch thốn phù và hoạt, bên trong kết hòn và các kinh bế tắc, mạch quan trì và kết, ăn không tiêu, uống thì trệ, mạch sắc và lao, phiền mãn, tranh sốt tranh rét. Xem mạch thì bệnh của người này là do sợ hãi lo buồn, gọi là chứng ‘đôi chim mất bạn’”.
Khi Hành Giả đang chuẩn bị thuốc cho nhà vua bằng đại hoàng và ba đậu, Sa Hòa Thượng nói: “Đại hoàng vị đắng, tính lạnh, không độc, tính nó trầm mà không phù, công dụng đi mà không giữ lại, khai mọi uất mà không ủng trệ, dẹp họa loạn mà dựng thái bình, gọi tên là ‘tướng quân’. Cái vị thuốc ấy chỉ có thế này, nhưng sợ quốc vương ốm lâu đã hư nhược, không thể dùng được”. Hành Giả trả lời Sa hòa thượng: “Hiền đệ không biết, vị thuốc ấy long đờm nhuận khí, khua hết hàn nhiệt ngưng trệ ở trong bụng, chú để mặc tôi. Chú đi lấy một lạng ba đậu, bóc vỏ bỏ màng, giã cho hết dầu độc, rồi nghiền nát tinh ra”.
Trư Bát Giới cũng có lời giải thích kỳ diệu về ba đậu: “Ba đậu vị cay, tính nóng, có độc, tiêu tính độc, rửa sạch những thứ trầm hàn trong phế phủ, thông được bế tắc, lợi cả đường đại tiểu tiện, là tướng cướp ải phá cửa, không nên khinh thường”. Hành Giả đáp lại: “Hiền đệ, chú cũng không biết. Vị thuốc này có tác dụng phá kết, thông ruột, trị chứng đầy tức vùng tâm vị và thủy trướng”.
Mặc dù cả vị thuốc ba đậu và đại hoàng đều có tác dụng chữa bệnh, nhưng Tôn Ngộ Không đã có thể nhìn thấy được những khía cạnh mà Trư Bát Giới và Sa Ngộ Tĩnh không biết, từ đó kê đúng thuốc và chữa khỏi bệnh cho quốc vương nước Chu Tử.
Trong “Tây Du Ký”, một số bài thơ đã khéo léo lồng ghép tên các loại thảo dược Trung Quốc. Ví dụ, trong hồi 36:
“Ngộ Không xử đúng muôn duyên phục, Đạo tà phá bỏ thấy trăng soi”, có một bài thơ của Đường Tam Tạng kể về quá trình thỉnh kinh của ông. Bài thơ đó viết:
“Tự tòng ích trí đăng sơn minh,
Vương bất lưu hành tống xuất thành.
Lộ thượng tương phùng tam lăng tử,
Đồ trung thôi toán mã đâu linh.
Tầm pha chuyển giản cầu kinh giới,
Mại lãnh đăng sơn bái phục linh.
Phòng kỷ nhất thân như trúc lịch,
Hồi hương hà nhật bái triều đình?”
Dịch thơ:
Từ ngày ích trí thề non ấy.
Vương bất lưu hành tiễn ngoại thành.
Gặp gỡ dọc đường tam lăng tử,
Thúc roi trên nẻo mã đâu linh.
Trèo non lội suối tìm kinh giới,
Vượt vách qua khe hái phục linh.
Phòng kỷ một thân như trúc lịch,
Hồi hương bao thuở đến triều đình? [3]
Bài thơ đã sử dụng chín loại Trung Dược (chữ in đậm) bao gồm: ích trí, vương bất lưu hành, mã đâu linh, tam lăng tử, kinh giới, phục linh, phòng kỷ, trúc lịch, hồi hương. Những tên thuốc này mô tả sinh động tình tiết chuyện “Tây Du Ký”, lồng tên các vị thuốc Trung Dược vào toàn bộ bài thơ thành một thể hoàn chỉnh, khéo léo liên kết tình tiết chính của tiểu thuyết, khiến người ta khen ngợi vô cùng.
Trong hồi thứ 28, có một bài thơ theo lối cổ kiểu “Tây Giang Nguyệt” [4] miêu tả cảnh Tôn Ngộ Không chiến đấu với bọn thợ săn xâm chiếm Hoa Quả Sơn và tàn sát đàn khỉ:
“Thạch tả ô đầu phấn toái,
Sa phi hải mã câu thương.
Nhân sâm quan quế lĩnh tiền mang,
Huyết nhiễm chu sa địa thượng.
Phụ tử nan quy cố lý,
Tân lang chẩm đắc hoàn hương?
Thi hài khinh phấn ngọa sơn trường,
Hồng nương tử gia trung phán vọng”.
Dịch thơ:
Đá choảng ô đầu nát vụn,
Cát bay hải mã thương vong.
Đỉnh non sâm, quế xơ xác,
Mặt đất chu sa máu hồng.
Phụ tử khó về quê cũ,
Tân lang quay lại: đừng hòng.
Thây như khinh phấn rơi đầy núi,
Tựa cửa hồng nương luống đợi trông. [5]
Ở đây sử dụng 9 cái tên các vị Trung Dược (chữ in đậm) như ô đầu, hải mã, nhân sâm, quan quế, chu sa, phụ tử, tân lang, khinh phấn và hồng nương tử đã mô tả một cách sinh động cảnh chiến trường ác liệt vào thời điểm đó.
Ghi chú:
[1], [2], [3], [5]: Theo “Tây Du Ký” (bản dịch của nhóm dịch giả: Như Sơn, Mai Xuân Hải và Phương Oanh) Nhà xuất bản Văn học Hà Nội – 1988.
[4]: “Tây Giang Nguyệt” vốn là tên một khúc hát thời nhà Đường, về sau được dùng làm tên cho một loại thơ trữ tình tả cảnh.
Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/58778