Tác giả: Chính Tắc

[ChanhKien.org]

Trà là thức uống truyền thống của người Trung Quốc. Từ thời thượng cổ, Thần Nông đã dùng trà để giải độc. Đến thời Đường, trà thánh Lục Vũ đã viết bộ “Trà kinh” (Bộ sách về trà), đưa văn hóa trà đạo đạt đến đỉnh cao. Có lẽ bởi vì bản thân trà mang vị đắng, lại có hương thơm thuần khiết, nên tự nhiên đã hàm chứa triết lý và thiền cơ. Cho nên mối quan hệ giữa trà với giới văn nhân sĩ phu đặc biệt mật thiết, do đó cũng để lại nhiều tên gọi thanh nhã thoát tục dành cho trà trong lịch sử.

Cam Lộ

Trong từ khúc “Trung lữ – Hỷ xuân lai” có một câu thơ rằng:

“Nhất âu Cam Lộ canh trì danh, kháp nhị canh, mộng đoạn tửu sơ tỉnh”.

Tạm dịch:

Một chén Cam Lộ lừng danh, đúng lúc canh hai, giấc mộng tan khi rượu vừa tỉnh.

“Cam Lộ” được nhắc đến ở đây không phải sương trên trời giáng xuống, mà là một loại trà ngon chúng ta uống hàng ngày.

Vào thời Nam Bắc Triều, Dự Chương Vương Lưu Tử Thượng của triều Lưu Tống đến thăm Đạo sĩ Đàm Tế tại núi Bát Công, Đạo sĩ Đàm Tế dùng trà để chiêu đãi Lưu Tử Thượng. Sau khi thưởng thức trà, Lưu Tử Thượng nói: “Đây là Cam Lộ, sao lại gọi là trà?”

Ngày nay, chúng ta đã không thể nào biết được loại trà mà Lưu Tử Thượng gọi là Cam Lộ có hương vị như thế nào. Nhưng những người thường xuyên uống trà chắc chắn biết rằng, có những loại trà ngon, lúc mới uống vào miệng tuy đắng, nhưng sau đó sẽ có vị ngọt kéo dài, khiến người uống cảm nhận được dư vị khó quên. Nói như vậy, đem trà ví như nước Cam Lộ từ trời ban xuống cũng là điều hoàn toàn tương xứng.

Tiên Chưởng

Tên gọi thanh tao “Tiên Chưởng” bắt nguồn từ bài thơ “Đáp tộc điệt tăng Trung Phu tặng Ngọc Tuyền tiên nhân chưởng trà” của thi tiên Lý Bạch, thơ rằng:

“Thường văn Ngọc Tuyền sơn, sơn động đa nhũ quật
Tiên thử như bạch nha, đảo huyền thanh khê nguyệt
Mính sinh thử trung thạch, Ngọc Tuyền lưu bất yết
Căn kha sái phương tân, thải phục nhuận cơ cốt
Tùng lão quyển lục diệp, chi chi tương tiếp liên
Bộc thành tiên nhân chưởng, tự phách Hồng Nhai kiên
Cử thế vị kiến chi, kỳ danh định thùy truyền
Tông anh nãi thiền bá, đầu tặng hữu giai thiên
Thanh kính chúc Vô Diệm, cố tàm Tây Tử nghiên
Triêu tọa hữu dư hưng, trường ngâm bá chư thiên”.

Tạm dịch:

Thường nghe núi Ngọc Tuyền, hang động nhiều nhũ đá
Dơi tiên như quạ trắng, treo mình dưới trăng bên suối trong
Trà mọc giữa khe đá, suối ngọc kia tưới mát
Rễ cành thấm đẫm hương, uống vào dịu mát thân
Bụi già lá cuộn xanh, cành nối cành liên tiếp
Trà khô dáng tay Tiên, vỗ nhẹ vai Hồng Nhai
Thế gian chưa ai thấy, tên kia do ai truyền
Cao tăng trong dòng tộc, tặng trà kèm thơ hay
Soi gương Vô Diệm sánh, ngoảnh đầu thẹn với nàng Tây Thi
Sớm mai hứng thú đầy, cất giọng ngâm nga vọng khắp nơi.

Thi tiên Lý Bạch đã miêu tả loại trà này có hình dáng giống như bàn tay, cây trà bén rễ trong đá núi, được nước suối trong nuôi dưỡng, cành lá sum suê nối tiếp nhau. Ngay cả thi tiên Lý Bạch cũng không khỏi cảm thán đây là loại trà ngon xưa nay chưa từng thấy. Vì vậy, tên gọi tao nhã “Tiên Chưởng” (bàn tay Tiên) từ đó được lưu truyền rộng rãi.

Trong bài thơ “Ngọc Tuyền tự” của Viên Hoằng Đạo thời nhà Minh có câu:

“Nhàn dữ cố nhân trì thượng ngữ,
Trích tương Tiên Chưởng thí thanh tuyền.”

Tạm dịch:

Nhàn cùng bạn cũ bên hồ chuyện trò,
Hái Tiên Chưởng pha nước suối trong.

Đổng Dĩ Ninh thời nhà Thanh cũng từng nhắc đến tên Tiên Chưởng trong bài thơ “Họa Đường Xuân”:

“Định từ thân phủng canh doanh doanh,
Tiên Chưởng sơ khuynh”.

Tạm dịch:

Chén sứ Định Châu tay nâng nhẹ,
Tiên Chưởng vừa rót.

Lục Du thời Tống thì viết trong “Dạ tọa trung đình lương thậm” rằng:

“Khát giải tự thường Tiên Chưởng lộ,
Hồn thanh như cận ngọc khổn băng.
Thùy tri thử tế siêu nhiên xử,
Bất giảm Lư Sơn nhập định tăng?”

Tạm dịch:

Giải cơn khát tựa nếm giọt sương Tiên Chưởng,
Hồn thanh khiết như gần băng trong bầu ngọc.
Ai biết được tại thời khắc siêu thoát này,
Chẳng kém gì cao tăng nhập định ở núi Lư Sơn.

Loại trà mà có thể được đặt cho cái tên thanh tao, thoát tục như thế, phải chăng đó thực sự là trân phẩm của Tiên nhân.

Địch Phiền Tử, Bất Dạ Hầu

Dĩ nhiên, lý do người Trung Quốc yêu thích uống trà không chỉ vì hương vị, mà quan trọng hơn là công hiệu của trà. Trong Trung y truyền thống cho rằng, uống trà có tác dụng lợi tiểu ích gan, thanh nhiệt, làm tinh thần tỉnh táo, giảm đau, xoa dịu cơn giận, tiêu trừ mệt mỏi, giúp tư duy linh hoạt, v.v.. Y học hiện đại cũng phát hiện trong trà chứa nhiều loại vitamin và amino axit, có lợi cho sức khỏe thể chất và tinh thần.

Trong cuốn “Đường Quốc Sử Bổ” có ghi: Thường Lỗ Công đi sứ Tây Phiên (nước Thổ Phạn thuộc vùng Tây Tạng), ở trong lều pha trà. Vua của xứ Tây Phiên hỏi: “Thứ này là gì vậy?” Thường Lỗ Công đáp: “Gột rửa phiền não và trị cơn khát, thứ này gọi là trà”. Vì vậy hậu thế cũng gọi trà là “Địch Phiền Tử”, có nghĩa là “thứ gột rửa phiền não”. Tiền Duy Diễn viết bài thơ “Dạ ý” có câu thơ rằng:

“Ốc đỉnh kỷ tư kim chưởng lộ,
Địch phiền thùy tá ngọc hồ băng”.

Tạm dịch:

Tẩy bụi trần mấy lần nhớ sương lành trong đĩa vàng,
Gột muộn phiền mượn ai băng trong bình ngọc.

Người xưa uống trà để giải khuây, rửa sạch phiền muộn, đạt được sự an nhiên về tinh thần.

Theo sách “Bác Vật Chí” ghi: “Uống trà thật khiến người ta mất ngủ”. Uống trà vào ban đêm sẽ kích thích thần kinh, làm con người tỉnh táo, khó đi vào giấc ngủ. Hồ Kiệu thời Tống viết trong “Phi long giản ẩm trà” rằng:

“Triêm nha cựu tính Dư Cam thị,
Phá thụy tu phong Bất Dạ Hầu”

Tạm dịch:

Trà vừa vào miệng mang họ cũ Dư Cam thị,
Phá tan giấc ngủ phải phong tước Bất Dạ Hầu.

Khi trà vừa vào miệng thì có vị đắng trước ngọt sau, nên nhà thơ gọi dư vị ngọt thanh tao của trà là họ “Dư Cam”. Còn khi trà ngấm vào người thì làm tinh thần tỉnh táo có thể thức trắng đêm như một vị hầu tước bận rộn không ngủ. Trà được yêu thích vì có tác dụng kích thích thần kinh, làm đầu óc tỉnh táo. Vì vậy người xưa còn gọi trà là Bất Dạ Hầu (vị hầu tước không ngủ).

Phong Sinh Dịch

Tên gọi “Phong Sinh Dịch” (gió sinh ra từ dưới nách) là một tên gọi khác của trà, bắt nguồn từ một bài thơ của Lư Đồng thời Đường:

Bài thơ: “Tẩu bút tạ Mạnh gián nghị ký tân trà”

“Nhật cao trượng ngũ thuỵ chính nùng,
Quân tướng đả môn kinh Chu Công.
Khẩu vân gián nghị tống thư tín,
Bạch quyên tà phong tam đạo ấn.
Khai giam uyển kiến gián nghị diện,
Thủ duyệt nguyệt đoàn tam bách phiến.
Văn đạo tân niên nhập sơn lý,
Chập trùng kinh động xuân phong khởi.
Thiên tử tu thường dương tiễn trà,
Bách thảo bất cảm tiên khai hoa.
Nhân phong ám kết châu bội lôi,
Tiên xuân trừu xuất hoàng kim nha.
Trích tiên bồi phương toàn phong khỏa,
Chí tinh chí hảo thả bất xa.
Chí tôn chi dư hợp vương công,
Hà sự tiện đáo sơn nhân gia.
Sài môn phản quan vô tục khách,
Sa mạo lung đầu tự tiễn khiết.
Bích vân dẫn phong xuy bất đoạn,
Bạch hoa phù quang ngưng oản diện.
Nhất oản hầu vẫn nhuận,
Lưỡng oản phá cô muộn.
Tam oản sưu khô trường,
Duy hữu văn tự ngũ thiên quyển.
Tứ oản phát khinh hạn,
Bình sinh bất bình sự,
Tận hướng mao khổng tán.
Ngũ oản cơ cốt thanh,
Lục oản thông tiên linh.
Thất oản khiết bất đắc dã,
Duy giác lưỡng dịch tập tập thanh phong sinh.
Bồng Lai sơn tại hà xứ?
Ngọc Xuyên Tử, thừa thử thanh phong dục quy khứ.
Sơn thượng quần tiên ty hạ thổ,
Địa vị thanh cao cách phong vũ.
An đắc tri bách vạn ức thương sinh mệnh,
Đọa tại điên nhai thụ tân khổ.
Tiện vi gián nghị vấn thương sinh.
Đáo đầu hoàn đắc tô tức phủ”.

Tạm dịch:

Thư viết nhanh tạ ơn quan gián nghị họ Mạnh gửi trà mới
Mặt Trời lên cao trượng rưỡi, đang lúc giấc nồng,
Quân lính đập cửa làm kinh động Chu Công.
Nói rằng quan gián nghị gửi thư,
Gói lụa trắng có ba dấu ấn niêm phong.
Mở thư như thấy dung mạo ông gián nghị,
Tự tay lựa ba trăm lá trà tròn hình trăng.
Nghe nói đầu năm mới vào trong núi,
Kinh động côn trùng ngủ đông, gió xuân chớm thổi.
Thiên tử chờ nếm trà Dương Tiễn,
Trăm cây còn chưa dám khai hoa.
Gió lành thầm kết chồi ngọc,
Trước xuân nảy mầm quý.
Hái tươi sấy thơm rồi gói kỹ,
Cực tinh tuý, tốt lành mà không xa hoa.
Trà dư của bậc chí tôn chỉ hợp hàng vương công,
Cớ sao lại tới nhà của kẻ ẩn dật nơi núi rừng.
Khép cổng tre không tiếp khách tục,
Đội mũ sa nghiêm chỉnh tự pha trà.
Mây biếc dẫn gió thổi không ngừng,
Hoa trắng nổi ánh sáng ngưng đọng trên mặt chén trà.
Chén thứ nhất nhuận môi họng,
Chén thứ hai xua tan phiền muộn cô độc.
Chén thứ ba tìm trong bụng rỗng,
Chỉ thấy văn tự năm nghìn quyển.
Chén thứ tư phát mồ hôi nhẹ,
Chuyện bất bình trong đời thoát theo lỗ chân lông.
Chén thứ năm da thịt xương cốt trong sạch,
Chén thứ sáu thông đến cõi Tiên.
Chén thứ bảy không nhấp nổi,
Chỉ thấy gió mát hây hây sinh ra từ hai bên nách.
Núi Bồng Lai ở nơi nào?
Ngọc Xuyên Tử muốn cưỡi gió này về đó.
Các vị Tiên trên núi xa nơi hạ giới,
Địa vị thanh cao cách biệt gió mưa.
Đâu biết trăm vạn số phận thương sinh,
Rơi xuống vách núi sâu chịu bao đau khổ.
Đành vì quan gián nghị xin được hỏi,
Muôn dân trăm họ nghỉ ngơi hồi sức hay không.

Nhà thơ đã miêu tả rất tinh tế, sống động trạng thái khi uống trà. Từ việc làm nhuận họng, xua tan muộn phiền cô độc, gột sạch phiền não, thanh lọc thân tâm, từng lớp từng lớp tiến dần, giống như thế giới tinh thần của một người tu đạo đang ngồi thiền nhập định. Khi uống đến chén thứ sáu, bỗng cảm thấy dưới hai nách sinh ra gió mát, lâng lâng như sắp hóa Tiên.

Thi nhân Trần Hoán thời Tống viết trong bài thơ “Hoàng long động khẩu đạo nhân tống trà cập cung trúc trượng” rằng:

“Phanh lai tập tập phong sinh dịch,
Trụ thượng La Phù đệ nhất phong”.

Tạm dịch:

Nấu ra gió nhẹ sinh từ nách,
Chống gậy leo lên đỉnh núi cao nhất của La Phù.

Hay trong bài “Hoàng thối sinh nhật tống trà thọ chi” của Hồ Dần thời Tống cũng có viết:

“Cố quân ẩm bãi phong sinh dịch,
Phi đáo Bồng Lai nhật nguyệt trường”.

Tạm dịch:

Chúc người uống xong nách sinh gió,
Bay đến Bồng Lai ngày tháng dài.

Tên gọi vừa thanh nhã, vừa có hàm nghĩa sâu sắc như thế, cũng không kém gì tên gọi “Tiên Chưởng”, chẳng trách các văn nhân hậu thế rất thích gọi trà là “Phong Sinh Dịch”.

Lạc Nô

Phía trên đã nói đến rất nhiều biệt hiệu của trà, đều là những lời ca tụng đẹp đẽ dành cho trà. Nhưng cái tên gọi “Lạc Nô” lại mang hàm ý chê bai. Vào thời Nam Bắc Triều, Vương Hoán của nhà Nam Tề phạm tội khiến cả nhà bị liên lụy, chỉ có con trai của Vương Hoán là Vương Túc trốn thoát sang Bắc Ngụy. Trong mấy năm đầu ở Bắc Ngụy, Vương Túc vẫn giữ thói quen ăn uống của người phương Nam. Có một lần, vua Hiếu Văn Đế của Bắc Ngụy mở yến tiệc chiêu đãi quần thần, Hiếu Văn Đế thấy Vương Túc chuyên ăn thịt dê, uống sữa đặc nên cảm thấy kỳ lạ bèn hỏi: “Khanh có khẩu vị của Trung Nguyên ư. Thịt dê so với canh cá thế nào? Trà uống so với sữa đặc ra sao?” Vương Túc đáp: “Thịt dê ngon nhất trong lục súc, cá ngon nhất trong các loài vật dưới nước. Mỗi thứ có vị ngon khác nhau, đều được coi là quý giá. Nói về hương vị, thực là có sự ngon dở. Thịt dê ví như các nước lớn Tề, Lỗ; cá ví như nước nhỏ Chu, Cử. Chỉ có trà là kém, đáng làm nô lệ cho sữa”.

Tất nhiên, có không ít văn nhân bày tỏ quan điểm của mình đối với vấn đề sữa đặc ngon hay trà ngon hơn. Trần Dữ Nghĩa thời Tống viết trong “Bồi chư công đăng nam lâu” rằng:

“Bình sinh lạc nô báng,
Mạch mạch khí vị thân”.

Tạm dịch:

Xưa nay trà bị chê là lạc nô,
Hương vị lượn lờ từ giờ Mùi đến giờ Thân.

Còn Phương Văn thời nhà Thanh trong bài “Đề lưu tử lương sơn nhân phẩm tuyền đồ” viết:

“Cam tuyền hương mính thắng thể hồ,
Bất tín tiền nhân hoán lạc nô”.

Tạm dịch:

Suối ngọt trà thơm thắng hẳn sữa,
Không tin rằng người xưa gọi là lạc nô.

Điều thú vị là, sau khi lá trà được truyền nhập vào châu Âu, giới quý tộc Pháp lúc bấy giờ đã phát minh ra cách uống trà sữa. Văn hóa ẩm thực Đông – Tây cứ hòa quyện vào nhau một cách kỳ diệu như thế.

Lời kết

Thực ra, biệt hiệu của trà còn rất nhiều, như Thủy Ách, Thanh Hữu, Long Đoàn, Vân Nhụy, Tùng Phong, Nhũ Hoa, Khổ Khẩu Sư, v.v.. Và đằng sau mỗi cái tên tao nhã ấy đều ẩn chứa một câu chuyện độc đáo. Khi bị những chuyện trần tục quấn thân, khi trong lòng có điều phiền muộn, thì hãy học tập người xưa, hẹn vài ba người bạn thân quây quần bên bếp lửa thưởng thức trà, đàm luận chuyện xưa nay. Đó cũng là một chuyện hạnh phúc trong đời vậy.

Dịch từ: https://big5.zhengjian.org/node/293996