Tác giả: Tẩu Chính Đạo

[ChanhKien.org]

Tôi sinh ra vào những năm 70 của thế kỷ trước, theo cách nói bây giờ gọi là “thế hệ sinh sau thập niên 70”. Hồi đó chúng tôi bởi vì có thế hệ ông bà ở cùng, nên rất nhiều người tin vào thiên lý thiện ác hữu báo. Trong lời nói hàng ngày đều thường nghe thấy nào là “tích đức”, “thiếu đức”, “tạo nghiệp”, “nghiệp chướng”, và “không phải không báo, thời điểm chưa tới mà thôi” v.v. Tiêu chuẩn để đánh giá đúng sai chính là báo ứng thiện ác. Nhà nào được may mắn, đó là do “tổ tiên tích đức”; gia đình nào gặp chuyện không may hay người nào gặp tai ương, đó là “quả báo cho việc tạo nghiệp”. Trong môi trường như vậy, chúng tôi tin vào chuyện thiện ác báo ứng, tin rằng làm người tốt có phúc báo, làm người xấu sẽ nhận ác báo, chỉ là vấn đề sớm muộn mà thôi.

Môi trường ở Trung Quốc đại lục ngày nay đã khác xưa rồi, dưới sự đầu độc bởi những lời dối trá luôn thay đổi của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), người dân Trung Quốc tin vào thuyết vô thần và thuyết tiến hóa, họ tin vào khoa học, coi khái niệm “tích đức”, “thiếu đức” “tạo nghiệp” là “phong kiến và mê tín”, coi chúng như cặn bã của xã hội phong kiến vứt bỏ đi. Trẻ em ngày nay không thể nghe lọt tai những thuật ngữ như vậy; trong lòng chúng chê cười trưởng bối của mình mê tín, không hiểu khoa học, không biết máy tính. Trẻ em ngày nay tin vào điều gì? Chúng tôn thờ tiền bạc và bạo lực. Chúng tin rằng phải nỗ lực phấn đấu, thi đậu vào được những trường tốt, như các trường đại học thuộc đề án “985” và “211”, thì mới có lối thoát; chúng vắt óc suy nghĩ để làm giàu chỉ sau một đêm, kiếm nhiều tiền, cho rằng có tiền thì muốn gì cũng được; chúng truy cầu cuộc sống phóng túng, cái gì trách nhiệm xã hội, trách nhiệm gia đình đều không liên quan gì đến chúng; ai đó gặp bất hạnh hoặc yểu mệnh, chúng không coi đó là sự báo ứng cho những việc làm ác, mà cho đó là những sự việc ngẫu nhiên, là việc tất yếu của sinh, lão, bệnh, tử……

Xã hội đã thay đổi đến mức độ như vậy, ranh giới cuối cùng của đạo đức con người liên tục bị phá vỡ. Phải chăng thiên lý thiện ác báo ứng không còn tác dụng nữa? Con người đều có thể muốn làm gì thì làm? Đây cũng chính là chỗ mà rất nhiều người ngày nay bị mê hoặc. Có người nói: Nếu nhân quả báo ứng là thiên lý, tại sao các quan chức ở Trung Quốc đại lục hiện nay, không quan tâm đến sống chết của người dân, không thông báo cho dân, tự ý mở cửa xả lũ dẫn đến người dân vùng hạ lưu gặp nạn, những quan chức này làm sao lại không thấy bị báo ứng chứ? Tại sao họ không thấy những người này chết bất đắc kỳ tử? Có quan chức càng làm điều ác ngược lại càng làm cao, làm sao có thể giải thích điều này?

Đứng từ góc độ văn hóa đảng của ĐCSTQ mà nhìn nhận vấn đề, chỉ có thể là càng ngày càng mê hoặc, ngày càng xa rời thiên lý thiện ác hữu báo, điều mang đến chỉ có thể là đồi bại và càng thêm ngu muội.

Có ba câu chuyện văn hóa truyền thống có thể giúp chúng ta giải đáp những nghi vấn này.

Ngốc nghếch đắc đại phúc

Hồ Mục Đình đời nhà Thanh kể, quê ông ta có một phú ông, bình thường sống trong an nhàn sung sướng, ông ta đóng cửa không quan tâm đến chuyện thiên hạ, người ta hiếm khi thấy ông xuất hiện trước công chúng. Nói ra kể cũng lạ, người đàn ông này không giỏi kiếm tiền mưu sinh, nhưng của cải của ông ta dường như dùng mãi không hết. Ông ta không biết chăm sóc sức khỏe, nhưng cả đời ông ta cũng chưa mắc phải bệnh tật nghiêm trọng nào. Thỉnh thoảng cũng xảy ra tai họa ngoài ý muốn, nhưng rồi lại thoát ra được một cách bất ngờ.

Có lần, một người hầu gái của nhà ông ta đột nhiên treo cổ tự tử. Công sai trong thôn thấy thế thì có chút hả hê, cho rằng có cơ hội lợi dụng, ra sức rêu rao đồng thời báo quan. Quan địa phương sau khi tiếp nhận tin báo, khí thế dẫn theo một nhóm đông sai nha, trước tiên đến khám nghiệm tử thi lập án. Trong khi khám nghiệm tử thi, đột nhiên, tay chân của người hầu gái hơi rung lên. Mọi nhân chứng đều kinh ngạc, một lát sau, chỉ thấy cô ta ngáp một cái, vươn vai, nghiêng người sang một bên rồi ngồi dậy, cô ấy đã sống lại.

Viên quan địa phương vẫn muốn bịa đặt tội danh “bị cưỡng hiếp dẫn đến treo cổ”, bèn không ngừng dùng đủ mọi lời lẽ để ám thị, mớm cung. Người hầu gái dập đầu hướng lên trên nói: “Thanh Thiên đại lão gia! Chủ nhân của tôi có cả đống cơ thiếp, ai cũng xinh đẹp như tiên nữ. Làm sao ông ấy lại để ý đến tôi được? Giả sử ông ấy để mắt đến tôi, tôi đã vui mừng không kịp, làm sao lại chịu tự tử! Thật ra, bởi vì tôi nghe được tin cha tôi không biết vì duyên cớ gì bị quan địa phương đánh đòn đến chết, trong lòng vừa đau thương vừa phẫn nộ, cho nên mới không muốn sống nữa, thực sự không còn lý do nào khác!” Tên quan địa phương nghe xong hết cách, thất vọng bỏ đi.

Những trải nghiệm khác của người đàn ông giàu có này cũng thường tương tự như vậy, người trong làng của ông đều nói: “Người đàn ông này trông có vẻ ngốc nghếch, vậy mà tại sao ông ta lại có được phúc phận lớn như vậy? Thật chẳng hiểu ra làm sao”.

Có một lần, tình cờ có người lên đồng viết chữ chiêu tiên, dân làng liền đem nghi vấn này đến thỉnh giáo vị lên đồng viết chữ này. Người lên đồng nói: “Cách nghĩ của mọi người đều sai rồi. Ông ta sở dĩ có được phúc phận này, chính là vì ông ta là một người ngốc nghếch. Người đàn ông giàu có này, kiếp trước, là một gã nhà quê đích thực. Ông ta giản dị đôn hậu, không có tâm nhỏ nhen tính toán với người khác. Ông ta sống thong dong, chẳng bao giờ lo lắng về được hay mất, ông tuy trầm lắng, nhưng đối xử với mọi người bình đẳng, trong tâm không yêu không ghét. Tâm hồn ông thản đãng và luôn thẳng thắn, không thiên lệch. Có ai ức hiếp ông, ông sẽ không cãi lại. Có ai lừa gạt ông, ông sẽ không dùng đến thủ đoạn. Có ai vu khống ông bằng lời lẽ ác ý, ông cũng không oán giận, cũng không giận cá chém thớt. Có người bịa đặt tội trạng hãm hại ông, ông cũng không tìm cách trả thù. Cả đời ông bình yên tự tại và ông chết vì tuổi cao trong một mái lều tranh, cũng chẳng có công đức gì lớn lao, chỉ có duy nhất trái tim trong sáng và thiện lương, lại được các vị thần linh tán thưởng! Cho nên họ đã ban phúc cho ông, khiến cho ông suốt đời này được hạnh phúc. Những ngốc nghếch và thiếu hiểu biết của ông biểu hiện trong đời này, chính là chứng minh rằng mặc dù thân hình của ông đã khác so với kiếp trước, nhưng bản chất vốn có của ông vẫn còn, và thiện căn của kiếp trước vẫn chưa bị mai một. Các vị dường như đều thắc mắc rằng một người tầm thường và không có tài cán gì giống như ông ta, không đáng may mắn đắc phúc thì các vị đã nghĩ sai rồi!”

Những người có mặt lúc đó, người tin và người không tin đều chiếm mỗi bên một nửa. Ông Hồ (Hồ Mục Đình) cho rằng lời nói của bà đồng rất đáng để mọi người suy ngẫm. (Dựa trên “Duyệt vi thảo đường bút ký” của Kỷ Hiểu Lam đời nhà Thanh)

Câu chuyện về nhân quả ba đời

Câu chuyện này dân gian gọi là “Sửa cầu đắp đường mù đôi mắt”, câu chuyện này xảy ra trong dân gian vào thời Bắc Tống, khi Bao Chửng làm tể tướng.

Vào thời Bắc Tống, trong một ngôi làng nọ có một cậu bé khoảng mười tuổi, chân bị tàn tật và mồ côi cả cha lẫn mẹ. Đứa trẻ này không chỉ cô đơn một mình, mà còn sống trong cảnh nghèo đói cùng cực, thậm chí phải dựa vào lòng hảo tâm của hàng xóm hoặc ăn xin để sống sót. Phía trước ngôi làng này có một con sông chảy qua, dân làng và người qua đường muốn qua lại phải lội qua sông, đặc biệt là người già cao tuổi rất bất tiện. Mỗi khi mực nước sông dâng cao, thì càng khó qua lại. Mà năm này qua năm khác, không ai nghĩ đến việc thay đổi tình trạng này. Chỉ có đứa trẻ này ngày ngày nhặt đá, chất thành đống bên bờ sông. Mọi người nhìn thấy vậy liền hỏi tại sao lại nhặt đá và chất thành đống bên bờ sông như vậy. Đứa trẻ trả lời nói muốn xây một cây cầu đá để dân làng qua lại cho thuận tiện. Mọi người đều xem thường, cho rằng đứa trẻ ăn nói điên khùng, đa số cười nhạo thằng bé.

Nhưng cóp nhặt từng ngày, năm này qua năm khác, những viên đá chất thành một ngọn núi nhỏ. Dân làng bắt đầu thay đổi suy nghĩ và cũng bị tinh thần của đứa trẻ này làm cho cảm động, cùng chung tay nhặt đá, khai thác đá và xây cầu.

Dân làng đã thuê thợ thủ công đến, bắt đầu xây dựng cây cầu đá. Đứa trẻ tàn tật càng tập trung hết sức mình cho công việc. Cầu còn chưa hoàn thành, đứa trẻ đã bị mù cả hai mắt trong một lần đục đá. Mọi người đau buồn, oán hận, trách ông trời bất công, nói ôi chao, đứa trẻ đáng thương như thế, hết lòng vì mọi người, nhưng lại nhận một kết cục như vậy. Nhưng bản thân đứa trẻ không bao giờ oán hận, mỗi ngày đều dò dẫm trên công trình sửa cầu làm những việc vừa sức của mình.

Với sự chung tay góp sức của mọi người cây cầu cuối cùng cũng được hoàn thành. Giữa những tiếng hò reo ăn mừng của mọi người, mọi ánh mắt thương cảm và thán phục đều đổ dồn về đứa trẻ cô đơn, vốn đã bị tật một chân, giờ lại bị mù. Đứa trẻ tuy rằng không nhìn thấy gì, nhưng nét mặt lộ rõ nụ cười hạnh phúc nhất trong cuộc đời.

Nhưng rất nhanh, một trận mưa như trút nước bất ngờ đổ xuống dường như muốn rửa sạch bụi bặm trên cây cầu đá, tạo nên một cảnh tượng tuyệt đẹp. Nhưng sau một tiếng sấm đinh tai nhức óc, mọi người phát hiện ra rằng đứa trẻ đã bị sét đánh trúng, ngã xuống qua đời. Đám đông sững sờ, rồi những cảm xúc bị kìm nén bấy lâu bỗng bùng nổ, than thở đứa trẻ mệnh khổ, oán trách trời xanh bất công…

Đúng lúc đó, tể tướng Bao Chửng, được dân chúng gọi là Thanh Thiên đại lão gia tình cờ đi công cán đến đây. Dân chúng ùn ùn chặn kiệu quan kêu bất công muốn đòi công đạo cho đứa trẻ. Họ chất vấn tướng gia: Người tốt vì sao lại không được phúc báo? Sau này người tốt sao làm đây? Tể tướng Bao Chửng ăn bổng lộc nhân gian bị tình cảm của dân làng làm cho cảm động, múa bút viết nhanh sáu chữ “Thà hành ác đừng hành thiện” rồi phất tay áo bỏ đi.

Trở về kinh thành, Bao Chửng đem việc công cán và những gì ông nghe và nhìn thấy ​​trên đường tấu lên Hoàng đế, nhưng lại giấu đi việc đề chữ. Mặc dù hoàn toàn không hiểu việc đứa trẻ kia hành thiện mà lại bị ác báo, nhưng sau khi suy nghĩ kỹ, ông vẫn cảm thấy việc viết sáu chữ đó là không ổn thỏa. Không ngờ, sau khi thoái triều Hoàng đế nhất định kéo ông vào hậu cung để nói chuyện riêng. Thì ra vài ngày trước, Hoàng đế mới có thêm một long tử. Tiểu Hoàng tử rất đáng yêu, nhưng cậu bé khóc suốt cả ngày. Thế là Hoàng đế đặc biệt để Bao Chửng đến xem thế nào. Bao Chửng thấy da của đứa trẻ trắng như tuyết, trên bàn tay non nớt của cậu có một dòng chữ. Nhìn kỹ hơn, đó chính là sáu chữ mà mình đã viết: “Thà hành ác đừng hành thiện”. Mặt ông ngay lập tức đỏ đến tận gáy, vội vàng đưa tay lau chữ. Bao Chửng vừa lau, chữ viết trên cánh tay của tiểu hoàng tử biến mất ngay lập tức!

Kể ra cũng lạ, sáu chữ trên tay hoàng tử kia trong mắt Bao Chửng là chữ, nhưng trong mắt người khác lại chỉ là một vết bớt. Hoàng đế nhìn thấy vết bớt trên tay hoàng tử bị Bao Chưởng xóa mất, ông sợ rằng đã xóa đi phúc đức của hoàng tử, nên đã trách cứ Bao Chửng không tiếc lời. Bao Chửng vội vàng quỳ xuống, miệng nói: “Tội thần đáng chết”, rồi kể lại đầu đuôi chuyện mình đã viết chữ trong cơn bực bội. Hoàng đế thấy rất kỳ lạ nên lệnh cho Bao Chửng dùng gối âm dương xuống địa phủ làm rõ thực hư.

Bao Chửng gối lên gối âm dương du ngoạn xuống địa ngục, sự thật được phơi bày. Hóa ra đứa trẻ kia kiếp trước đã gây ra nhiều tội lỗi, tạo nghiệp rất lớn. Bồi hoàn tội ác của một đời kia cần ba đời nghiệp báo mới có thể trả sạch. Diêm Vương vốn đã an bài đời thứ nhất là sinh ra tàn tật và cô độc; kiếp thứ hai bị mù lòa; kiếp thứ ba bị sét đánh chết phơi thây ở hoang mạc. Ở kiếp đầu tiên, đứa trẻ chuyển sinh trong cảnh nghèo khó và tàn tật, nhưng cậu bé đã ăn năn hối cải, chỉ muốn làm điều tốt cho người khác. Thế là Diêm Vương để cậu trả nghiệp của đời thứ hai trong đời thứ nhất, khiến cậu bị mù đôi mắt. Nhưng đứa trẻ không oán trời trách đất, chỉ âm thầm làm điều tốt cho người khác. Diêm Vương sau đó đã lấy nghiệp của đời thứ ba để cậu trả nợ trong đời thứ nhất, cho nên mới bị sét đánh tử vong. Diêm Vương hỏi Bao Chửng: “Trả nghiệp chướng của ba đời trong một đời, ông nói xem là tốt hay là xấu?” Một đời hoàn trả nghiệp của ba đời là bởi vì cậu bé đã chuyên tâm làm việc thiện, trong lòng chỉ nghĩ đến người khác mà không hề nghĩ đến bản thân. Về một số phương diện nào đó đã đạt đến cảnh giới “không tu Đạo mà đã ở trong Đạo”, tích được rất nhiều đức, cho nên sau khi chết, cậu ấy liền được tái sinh làm đương kim thái tử, hưởng thụ phúc phận của thiên tử.

Câu chuyện nhân quả ba đời của Cống Khánh Hữu

Vào những năm Thuận Trị của nhà Thanh, ở huyện Thuận Nghĩa có một gia đình phú hộ họ Cống, tài sản trong nhà vào loại khá. Ở tuổi trung niên họ sinh một người con trai tên là Cống Khánh Hữu. Người làm trong nhà họ Cống cũng sinh một người con trai tên là Lý Phúc. Do người làm thỉnh cầu nên nhà họ Cống đồng ý cho Lý Phúc theo Cống Khánh Hữu đến học chữ cùng một ông thầy. Khi hai đứa trẻ được 14 tuổi, một đêm nọ, Lý Phúc nằm mơ thấy cổng trời mở rộng, có hai vị Thần hạ xuống trong sân. Một vị Thần chỉ vào Cống Khánh Hữu nói: “Thằng bé sẽ như thế nào?” Vị Thần khác nói: “Nó có phúc lớn, 17 tuổi đậu tú tài, 19 tuổi đậu cử nhân, làm quan nhị phẩm, cả đời vinh hoa phú quý”, rồi chỉ vào Lý Phúc và hỏi cuộc đời của nó ra sao, vị Thần nói: “Nó mệnh khổ, cả đời không có công danh”. Nói xong, hai vị Thần liền thăng thiên rời đi, và cổng trời đóng lại. Lý Phúc sau khi tỉnh dậy rất buồn bực và kể lại giấc mơ cho cha mẹ và bạn bè.

Lý Phúc để ý tình cảnh của Cống Khánh Hữu từ đầu đến cuối, năm 17 tuổi, Cống Khánh Hữu quả nhiên đỗ tú tài, còn Lý Phúc thì đã nghỉ học và bắt đầu làm ruộng ở nhà. Cống Khánh Hữu đã cay nghiệt lại hung bạo, có thể nói là làm nhiều điều ác, nhưng anh ta từ sau khi đỗ tú tài, con đường làm quan rất trôi chảy, sau đó thực sự làm quan đến chức nhị phẩm. Sau khi làm quan thì càng ăn hối lộ trái luật, tàn hại bách tính.

Lý Phúc tin rằng một kẻ ác như Cống Khánh Hữu chắc chắn sẽ phải chịu ác báo, nhưng Cống Khánh Hữu sống đến hơn 70 tuổi, tiền tài thế lực đều có, nhân khẩu đông đúc, hơn nữa còn biết trước được cái chết của mình. Rất nhiều người nhận thấy sau khi hành ác không bị báo ứng ngay lập tức, từ đó nảy sinh nghi ngờ luật nhân quả báo ứng. Lý Phúc cũng không ngoại lệ. Ông ta khá bất bình, muốn xuống âm phủ xem cho rõ ràng. Ngay ngày Cống Khánh Hữu chết, Lý Phúc cũng chết và xuống âm phủ.

Lý Phúc phát hiện ở âm gian Cống Khánh Hữu vẫn được đối xử tốt, thế là càng thấy bất bình, ông bèn lập tức bày tỏ sự nghi hoặc của mình với Diêm Vương. Diêm Vương lệnh cho phán quan mở một cuốn sổ để xem, chỉ thấy trên đó ghi chép sinh tử thiện ác của Cống Khánh Hữu. Diêm Vương nói: “Kiếp trước hắn đã làm rất nhiều việc thiện, việc làm ác của hắn ở kiếp này đã làm tổn hao đi phần lớn công đức tích lũy, nhưng vẫn còn rất nhiều, đời sau vẫn còn được hưởng phúc, có điều là không bằng kiếp này. Còn về những việc ác của hắn, đó là vẫn chưa đến lúc báo ứng”. Đồng thời nói với Lý Phúc rằng vì kiếp trước ông chưa hành thiện tích đức, cho nên kiếp này vốn phải chịu khổ. Tuy nhiên, vì ông đã hết lòng làm việc thiện ở kiếp này, nên đã may mắn có đủ ăn đủ mặc, cuộc sống đã không tệ rồi, đợi đến kiếp sau sẽ được hưởng phúc.

Diêm Vương đặc biệt cho Lý Phúc chuyển sinh cùng với Cống Khánh Hữu, chỉ thấy Cống Khánh Hữu được đầu thai vào một gia đình giàu có, còn Lý Phúc thì đầu thai vào một gia đình trung lưu. Cống Khánh Hữu sau khi lớn lên làm huyện lệnh, nhưng vẫn tiếp tục làm hại dân lành, ăn hối lộ trái luật, hãm hại người lương thiện, ông ta từng dùng cực hình bức cung móc mắt người ta, và trong một vụ án khác còn chặt chân người ta. Năm 70 tuổi, Cống Khánh Hữu mắc bệnh nặng qua đời.

Lý Phúc trong kiếp này vẫn tiếp tục hành thiện tích đức, và bắt đầu tinh tấn tu hành. Sau khi Cống Khánh Hữu qua đời, ông có thể nguyên thần xuất khiếu để xem chuyện gì đang xảy ra ở âm phủ. Chỉ thấy ​​Cống Khánh Hữu bị phán xét ở âm phủ, sổ ghi chép cho thấy phúc đức của Cống Khánh Hữu đã hoàn toàn cạn kiệt, việc móc mắt chặt chân trong thời gian làm quan của ông ta không còn phúc đức gì để đền bù. Ông ta phải trả nợ bằng thân xác, bị trừng phạt chuyển sinh vào một gia đình nghèo khó, bị mù hai mắt và hai chân tàn tật, cả ngày ăn xin trên đường phố, chịu đựng những đau khổ không thể diễn tả thành lời.

Lý Phúc nhìn thấy ​​nhân quả ba đời này của Cống Khánh Hữu nên càng tinh tấn tu hành, hy vọng bản thân có thể sớm siêu thoát cái khổ của luân hồi.

Con người ở trong mê, không nhìn thấy được hình thức biểu hiện của thiên lý, càng không thấy được hình thức biểu hiện của đức và nghiệp, cho đến quan hệ quyết định đối với vận mệnh con người. Trong đời này có hảo sự, đích xác là phúc báo đã tích được trong các đời trước. Trong đời này có chuyện không may, nghèo rớt mồng tơi, vận rủi liên miên, thực sự là báo ứng của việc làm việc xấu tạo nghiệp trong các kiếp trước. Đây là hình thức biểu hiện của thiên lý nhân quả báo ứng trong nhân gian. Văn hóa đảng của ĐCSTQ bóp méo những hiện tượng như vậy thành “sự việc ngẫu nhiên” hoặc “quy luật tất yếu của sinh, lão, bệnh, tử”. Chúng có dụng tâm xấu, che đậy sự thật về sự tồn tại của Thần Phật, che đậy sự thật là con người được Thần Phật tạo ra, che đậy sự thật ý nghĩa chân chính của cuộc đời là phản bổn quy chân, và che đậy sự thật là tu luyện Phật Pháp có thể khiến con người phản bổn quy chân. Sau đó lại thông qua văn hóa đảng phản trời đất, phản Thần Phật, phản nhân tính, truyền cho người dân Trung Quốc, khiến người Trung Quốc không làm người tốt tích đức, chỉ biết dựa theo giả, ác, đấu, làm người xấu tạo nghiệp. Nghiệp càng ngày càng lớn, khi tích tụ đạt đến một mức độ nhất định, sẽ bị Thần Phật tiêu hủy triệt để, hình thần toàn diệt. Mục đích tội ác của ĐCSTQ là hủy diệt nhân loại. ĐCSTQ bức hại Phật Pháp là Pháp Luân Công, chính là muốn cắt đứt hoàn toàn cơ hội phản bổn quy chân của nhân loại, hủy diệt nhân loại từ căn bản một cách triệt để.

Những việc làm ngang ngược của ĐCSTQ sẽ bị Trời trừng phạt. Năm 2002, một tảng đá khổng lồ có niên đại khoảng 250 triệu năm đã được phát hiện tại thị trấn Chưởng Bố, huyện Bình Đường, tỉnh Quý Châu, trên đó có khắc dòng chữ “Trung Quốc cộng sản đảng vong”, đây chính là thiên lý thiện ác báo ứng hiển hiện ở nhân gian, nói rõ ràng minh bạch với thế nhân rằng Trời sẽ diệt Trung Cộng. Trung Cộng là một tổ chức tà giáo phải diệt, thì điều gì sẽ xảy ra với các đảng viên, đoàn viên, đội viên bị lôi cuốn gia nhập theo? Cuối tháng 11 năm 2004, trang web tiếng Trung ở hải ngoại – Thời báo Đại Kỷ Nguyên, đã ra mắt loạt bài viết “Cửu Bình cộng sản đảng” (Chín bài bình luận về đảng cộng sản), đã đóng nắp quan tài định tội cho ĐCSTQ và phơi bày toàn diện bản chất ma quỷ của nó từ các phương diện chính trị, kinh tế và văn hóa…, cũng như mục đích tà ác muốn hủy diệt nhân loại thông qua cuộc đàn áp Pháp Luân Công. Sau đó, Thời báo Đại Kỷ Nguyên đã ra mắt trang web thoái xuất khỏi ĐCSTQ, khơi dậy làn sóng tam thoái toàn cầu và cấp cho chúng sinh một cơ hội lựa chọn tương lai của sinh mệnh.

Có người có thể sẽ hỏi: Khẩu hiệu “Trời diệt Trung Cộng” đã được hô vang suốt 20 năm rồi, vậy tại sao ĐCSTQ đàn áp nhân dân mà vẫn chưa bị diệt vong? Còn có người hỏi: Tên đầu sỏ Giang Trạch Dân đàn áp Pháp Luân Công xấu xa như thế, sao không bị tuyệt tự, vẫn có con có cháu, và sống một cuộc sống ung dung tự tại? Bản thân Giang Trạch Dân đã sống thọ và chết già, có phải là thiên lý của thiện ác báo ứng đã thay đổi rồi?

Thiên lý thiện ác báo ứng vẫn không hề thay đổi. Chỉ là con người ngày nay đang sống trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt – thời kỳ chuyển tiếp giữa vũ trụ cũ và mới. Sự truyền xuất của Pháp Luân Công chính là muốn đưa sinh mệnh của vũ trụ cũ độ sang vũ trụ mới. Sự quá độ sang vũ trụ mới như thế nào? Chính là thông qua tu luyện Pháp Luân Công hoặc là minh bạch chân tướng về Pháp Luân Công, đưa ra lựa chọn. Muốn tu luyện Pháp Luân Công hoặc giả lựa chọn này đều không thể tách khỏi cái mê của xã hội nhân loại, không thể lựa chọn trong trạng thái phá mê. Nếu ĐCSTQ thực sự diệt vong như thế nhân kỳ vọng, trên thực tế trước mặt Thần Phật, ĐCSTQ chẳng là gì cả; nó có thể bị hủy diệt trong nháy mắt. Nhưng những người đã gia nhập đảng, đoàn, đội của Trung Cộng còn chưa đưa ra lựa chọn thì sẽ mất đi cơ hội. Đạo lý tương tự, nếu như Giang Trạch Dân giống như lời tiên tri, trước cuộc xét xử công khai trên toàn cầu, từ trên trời hạ xuống một cái móc câu, móc ông ta lên trời và một tiếng sét nổ tung biến ông ta thành tro bụi, thì sẽ ngay lập tức phá tan cái mê của con người, và con người sẽ mất đi cơ duyên lựa chọn và mất đi cơ hội được cứu. Chính là vì lòng từ bi của Sư phụ Pháp Luân Công, vì cứu độ chúng sinh, đã nhiều lần kéo dài thời gian trời diệt Trung Cộng, không ngừng ở trong mê cấp cơ duyên cho chúng sinh lựa chọn tương lai.

Không phải là thiên lý thiện ác báo ứng đã thay đổi, mà là yêu cầu của Chính Pháp. Thời gian đã nhiều lần được kéo dài, còn phải duy trì được trạng thái xã hội nhân loại mê, để xem mọi người ngộ như thế nào, xem mọi người lựa chọn điều gì. Lựa chọn đúng, sinh mệnh đạt được sự bất tử; nếu chọn sai, sinh mệnh sẽ trở thành vật bồi táng cùng Trung Cộng, hình thần toàn diệt, triệt để bị tiêu hủy!

Dịch từ: https://big5.zhengjian.org/node/298116